Cùng
suy luận với Nguyễn
Văn Lục về
việc:
Viết sử
thiếu trung thực (Kết)
Về
nghi án, ông Diệm là người trực tiếp trách nhiệm về sự mất tích bức nghiên mực
của vua Tự Đức.
Ông Diệm là người say mê đồ cổ, trong đó có nghiên mực cổ. Điều đó không thể phủ
nhận. Hơn nửa thế kỷ trước đây, lúc c̣n là thư sinh chưa quá tuổi 18 đă say mê
dịch bài nghiên cứu về cái nghiên của Tự Đức. Phải chăng cái say mê đó là cái cớ
quấy rầy ông và v́ đó thêm một cái cớ để cuộc đời làm chính trị của ông thêm vấy
bẩn?
Theo ông Nguyễn Đắc Xuân th́ chỉ có hai người là ông và cụ Sển lên án ông Diệm
đă chiếm công vi tư, đă tham lam nhận cái nghiên mực về làm của riêng cho ḿnh.
Theo sự giải thích của Cụ Sển: “Khi ông lên tột phẩm nấc thang danh vọng, th́
có người ở Huế biết chỗ nhược của ông và để củng cố địa vị cho ḿnh, bèn ôm
nghiên mực vào Sài G̣n tấn cống. Tôi biết chắc việc ấy v́ từ năm 1959 đến năm
1962 mấy lần ra Huế, tôi hỏi thăm th́ ngoài ấy nói với tôi Tức mặc Hầu đă vào
Nam”.
Người đó là người nào ông không nói. Biết chắc là đă vào Nam, người đọc phải
hiểu ngầm là chiếc nghiên phải t́m đường đến đường Gia Long, qua lính gác, vào
trong dinh, vào pḥng ông Diệm. Bài viết của cụ, nhất là sách in lại sau 75, có
lư do ǵ cụ không xác định rơ tên người biếu nghiên mực? Cụ lại là người từng
được ông Diệm mời vào dinh Gia Long kiểm tra chất lượng, giá trị thực hư của
những món đồ cổ, lẽ nào cụ lại không có dịp được biết đến món báu vật đó có thực
nằm trong dinh Gia Long hay không? Sau đoạn văn đó, Cụ Sển c̣n tỏ ư trách ông
Diệm tham lam. Đến đây tôi trở lại chuyện một người mê cái nghiên Tức Mặc Hầu
hơn tôi bá bội. Mê đến bất chấp lương tâm. Người đó khi đă chết, người ta lập
biên bản thống kê tài sản mới biết y muốn lưu di 50 kí lô vàng (theo công báo
của chính phủ Sài G̣n trước ) thế mà thuở sanh tiền, ông có tiếng là thanh liêm
số dách. Đă ham hai chữ thanh liêm, lại ham chi cái Nghiên Tức Mặc Hầu. Người
đó đă đem nghiên mực về Sài G̣n làm chủ riêng một ḿnh”. Hiểu sát nghĩa
câu này th́ ông Diệm đă ṃ ra Huế ôm cái nghiên mang về Sài G̣n chứ không phải
có người ôm nghiên vào tiến cống như cụ Sển nói đến ở đoạn trên?
Ông Nguyễn Đắc Xuân cũng lập lại ư của cụa Sển như sau: “Khoảng trước năm 1958,
(Trước năm 1958 có nghĩa là năm 1957, sao không nói là 1957 cho rồi chuyện) anh
cửu phẩm tân thơ Viện ngày xưa đă bước lên tột đỉnh danh vọng là TTVNCH, một vị
tai mắt của ngành Văn Hoá ở Huế, muốn củng cố địa vị của ḿnh bèn dùng cách
khai thác cái nhược của ông Diệm là thích dùng đồ của vua Chúa, đă ôm cái nghiên
mực Tức Mặc Hầu vào Sài G̣n tấn cống cho TT. Ông TT thường ngụy trang cho
cái nhân cách của ḿnh bằng hai chữ “thanh liêm”, bỗng trong phút chốc tạm dẹp
lớp ngụy trang qua một bên để nhận cái nghiên lịch sử vô giá đă thu hút tâm trí
ông từ lúc mới vào đời. (chữ dùng không chỉnh). Từ đó, cái nghiên Tức Mặc
Hầu trở thành tài sản vô giá của người đứng đầu Ngô Triều tại dinh Độc lập, rồi
dinh Gia Long. Ông cũng không quên đưa ra luật nhân quả khi viết: Người Huế
tin rằng, những ai ăn cắp vật dụng của nhà vua đem về nhà làm của riêng, nếu
không bị bắt xử theo luật nhà Nguyễn th́ gia đ́nh đó cũng tàn mạt, không chết
th́ cũng không ngóc đầu lên không nổi. Phải chăng TT Ngô đ́nh Diệm nhận cái của
cắp nghiên mực của vua Tự Đức là điềm báo trước dinh Gia Long sẽ bị tấn công,
anh em nhà họ Ngô sẽ bị giết sau vụ CM tháng 11-63.
|
 |
|
Ảnh chụp nghiên mực của vua Tự Đức.
Trên nắp đề bài thơ bằng chữ Hán (Nghiên mực nổi tiếng bằng đá quư của
vua Tự Đức, được vua phong hầu và khắc bài thơ trên nắp. (chuyển ngữ
ḍng chú thích dưới ảnh)
Nguồn/Ảnh: Bạn đọc Nguyễn Duy Chính gởi tác giả và chú thích:
Vietnamese Realities, Bộ Ngoai Giao VNCH (Ministry of Foreign Affairs,
Republic of Vietnam), Sài G̣n, 1967, trang 89. Đây là ảnh của ông Thái
Văn Kiểm trong cuốn Vietnam d'Hier et d'Aujourd'hui, Editions Intern.,
Tanger, 1956. Tấm ảnh này đă đăng trong Văn Hóa Nguyệt San (trước 1963).
|
Ông Diệm có thể thích đồ cổ, sưu tầm đồ cổ rồi cất một chỗ, lâu lâu dở ra coi.
Nhưng nói như ông Xuân có chỗ không được đúng. Thích dùng đồ cổ của vua chúa có
nghĩa sưu tập các đồ dùng đó mang ra dùng chúng hằng ngày như tự coi ḿnh là vua
chúa. Ông Diệm đă là một thứ vua rồi, cần chi đến những thứ đồ cổ đó như để
nghiên mực trên bàn để dùng. Đă vậy có muốn dùng cũng không được v́ là bút lông.
Nhiều người đă từng vào văn pḥng làm việc của ông Diệm như các cụ Đoàn Thêm,
Quách Ṭng Đức, B.S. Trần Kim Tuyến, ngay cả cụ Vương Hồng Sển đều cho thấy văn
pḥng bầy biện sơ sài đến nghèo nàn đến không xứng cho một Tổng Thống. Vậy, ông
Diệm đă thích dùng đồ của vua chúa là những đồ ǵ? Cụ Sển đă thế, ông lại đi
theo vết chân thầy th́ coi sao được. Đọc đoạn văn trên, phải đánh giá ông là
người thế nào?
Lời kết án của cụ Sển về việc ông Diệm nhận cái nghiên mực ăn cắp của vua Tự Đức
là một nghi án quan trọng. Phải được coi là một lời kết án có suy nghĩ chín chắn,
nếu không th́ cả cái sự nghiệp đi săn đồ cổ với cái cao ngạo lấy mắt xanh
biết vật hay cái thần nhăn th́ mới là tay chơi của cụ dám không c̣n nữa?
Cái thú chơi cổ ngoạn là có mắt hơn người, chớ dùng máy đo và dùng măi khoa học
Carbon 14 th́ chết mất thú chơi cổ ngoạn. Đó chỉ là một cách giỡm tiền hoặc khoe
của của các nhà trọc phú.
Ngày nay mà viết như thế chắc hẳn người ta sẽ dị nghị. Nếu lời kết án có sơ hở
th́ tiếng tăm của cụ c̣n ǵ nữa? Nay cụ đă quá văng, chỉ c̣n ông Nguyễn Đắc Xuân
được coi như kẻ kế thừa sự nghiệp với những lời trối trăn của người chết là phải
truy tầm ra cái nghiên mực đó ở đâu? Như lời của cụ Sển phát biểu nghe đến lạ
ai lo mất nước, mất nhà, tôi lo mất nghiên mực.
Nhưng trước khi có thể truy lùng ra được ai là người giữ nghiên mực, xin ông
Nguyễn Đắc Xuân một lần nữa làm sáng tỏ thêm về nghi án Ngô đ́nh Diệm. Cả cụ Sển
và ông Xuân đều nói úp mở là có một người ở Huế, c̣n ông Xuân nói rơ hơn một vị
tai mắt làm văn hóa ở Huế. Hài danh kẻ nhận của ăn cắp mà không hài danh kẻ cắp
là không ổn? Có cái ǵ bắt ông phải che dấu tên kẻ ăn trộm mà kẻ đó là chứng
nhân quan trọng hàng đầu của lời kết án này? Bao lâu ông chưa đưa tên kẻ ăn trộm
với bằng chứng cụ thể th́ việc kết án của ông chỉ là truy chụp bôi bẩn? Kẻ viết
mong là khi đọc được bài này, ông Xuân sẽ thỏa mản nguyện vọng b́nh thường của
một người đọc. Ai ăn cắp, ai nhận của ăn cắp cũng vậy thôi. Kẻ đó là Tổng Thống
hay thứ dân th́ cũng cùng một tội. Và nếu đúng như ḷng mong đợi của ông là ăn
trộm của triều đ́nh th́ tán gia bại sản th́ có lẽ dân Huế là nạn nhân đầu tiên
của lời nguyền rủa đó trong vụ tết Mậu Thân. Ông viết hồ đồ như thế, cho dù ông
Diệm có ăn cắp đi nữa th́ có liên quan ǵ đến cái chết của ông ấy?
Đọc đoạn văn chót của cụ Sển có câu sau đây Trước năm
1975, có một người trẻ, xưng là học tṛ cũ của tôi, nói nửa úp nửa mở rằng
nghiên mực Tức Mặc Hầu chưa ra ngoại quốc, vẫn c̣n luẩn quẩn đâu đây hoặc vùng
Sàig̣n, hoặc c̣n trong nước không xa, và ở trong tay một người nọ, và nghèo lắm,
túng lắm, chức vị nhỏ lắm, nhưng và không khứng ĺa ngọc Tức Mặc Hầu. Tôi đă
ráng hết sức hỏi, hỏi thêm ǵ người ấy cũng không nói nữa, nên hôm nay đành nói
tách bạch ra đây.
Đành nói tách bạch ra đây mà thực sự chẳng nói được ǵ, chỉ thêm rối rắm. Làm
sao trước 75, chiếc nghiên mực lại có cánh ḅ ra khỏi dinh Gia Long, rơi vào tay
một kẻ nhọ đít, khố rách áo ôm? Đă thế chức vị nhỏ lắm, tầm kiến thức hiểu biết
đuợc bao nhiêu để có thể đánh giá được sự vô giá của một viên đá mài mực? V́ thế
chắc là trả giá bao nhiêu y cũng không chịu bán. Hỏi người học tṛ rán hết sức y
cũng không chịu nói?
Đọc đoạn văn trên cho thấy tính cách hoang đường, gán cho nó một mầu sắc phiêu
lưu, tính cách đạo lư của kẻ biết của biết người, thà chịu đói đến chết cũng giữ
vật gia bảo. C̣n cái anh học tṛ không nói, chỉ v́ một lư do dễ hiểu v́ câu
truyện anh kể chỉ là chuyện hoang đường. Cụ Vương Hồng Sển vẫn có cái tài kể
những câu chuyện hoang đường như thế, đọc th́ thấy rất hấp dẫn, đưa người đọc
đến chỗ ngỡ ngàng, nuối tiếc. Cứ theo giả thuyết trên th́ trước 1975, nghiên mực
không thuộc quyền ông Diệm nữa, nó đă cao chạy xa bay rồi, oái ăm là lần này nó
tơi vào tay một kẻ nghèo kiết xác, nhưng lại biết được giá trị vô giá của nghiên
mực. Đọc cụ rồi, c̣n đôi chút kính trọng nó cũng bay di theo nốt với cái nghiên
mực.
Mất mát một cái nghiên mực, dù cho là vật gia bảo, quư giá, rồi mơ hồ nói bóng
gió nó được đưa ra ngoại quốc bằng những giả thuyết vô bằng như bà Nhu bí mật
mang sang Vatican, ông Diệm đem theo xuống nhà Mă Tuyên. Chẳng nên viết như thế
làm ǵ, nhất là một người như cụ Sển, ông Nguyễn Đắc Xuân. Có th́ nói có, không
th́ nói không. Nếu ông Diệm ăn cắp th́ nói ăn cắp, nếu bà Nhu ăn cắp một lần nữa,
v́ là vật vô giá hằng mấy trăm triệu th́ cứ nói huỵch tẹt ra. C̣n nếu không mà
đổ oan cho người ta th́ chẳng nên. Cũng đă rất nhiều người đổ oan cho ông, c̣n
tôi th́ không bao giờ. Vâng không bao giờ.
Trong một thư gửi cho người viết, Ông Nguyễn Cúc, chủ bút Tiếng Sông Hương,
trong phần ghi chú đă đưa ra một chi tiết tối quan trọng về tư cách của ông Diệm
như sau. Cụ Tùng Chi Vơ Như Nguyện, nguyên Viện trưởng
Viện Hán Học Huế, vào những năm 61-62 có mở một cuộc triển lăm tài liệu, sách sử
Viện Hán học. Ông Diệm ra dự cuộc triển lảm nên nhân đó cụ Nguyện đă kể truyện
có một nghiên mực cổ tên Vệ Ương Cung. Ông Diệm rất vui thích, ngỏ ư muốn xem
và mua lại tặng Viện Hán Học.
Bằng vào những điều kể lại của cụ Nguyện mà người viết trân trọng tin là cụ Vơ
Như Nguyện đă nói thật th́ tư cách của ông Diệm trong trường hợp này có thể phản
bác, đánh đổ tất cả những lời vu cáo của cụ Sển và ông Nguyễn Đắc Xuân. Không dễ
ǵ bôi nhọ ông Diệm trong trường hợp này. Thích đồ cổ là một chuyện, nhưng không
giữ làm của riêng, mua là để cho hậu thế, cho Viện Hán Học. Cái thích đó vượt
lên trên những tham lam, nhỏ nhen tầm thường. Quả thực, nếu đúng là như vậy, ông
Nguyễn Đắc Xuân cần minh định lại rơ ràng những lời kết tội của ông đối với ông
Diệm. Ông mong cái nghiên mực thế nào th́ phần tôi mong ông công bố bằng bài
viết rơ ràng và minh bạch về những lời kết tội ông Diệm..
Mong th́ mong vậy thôi, v́ tôi biết chắc, ông không bao giờ làm đươc điều đó.
Xin đưa thêm ư kiến của anh Vĩnh Phúc trong cuốn Những
huyền thoại và sự thật về chế độ Ngô Đ́nh Diệm, từ trang 440 đến 454,
anh Vĩnh Phúc, người đă ghi lại những xác nhận của ông BS Tuyến để phản bác
những dư luận đồn đăi về việc ông Diệm chiếm công vi tư bằng cách nêu ra
Có những người như Quách Ṭng Đức, Cao xuân Vỹ và nhất là
Hoàng Bá Vinh đều quả quyết chẳng bao giờ nh́n thấy nghiên mực nào cả. Trong
dinh lại có ba nguời thường ra vào thường xuyên pḥng ông Diệm là bí thư Vơ văn
Hải, Đại úy Bằng hầu cận và ông già An, người bỏ già. Trừ ông Hải, hai người kia
thường có dịp tṛ truyện, kể cho ông Tuyến nghe. Nhưng tuyệt nhiên, không có ai
nói về nghiên mực đó cả. Chính cụ Sển cũng đă ḍ hỏi ông Giá là người chịu trách
nhiệm bảo quản các vật dụng trong Dinh, nhưng ông bảo không bao giờ trông thấy
nghiên mực. (trang 457).
Viết như trên, bằng một số luận cứ hợp lư, chẳng hiểu đă rơ ràng minh bạch trắng
đen chưa?
Đă thế, nói về cái mất cái c̣n của triều đ́nh Huế mà chỉ coi cái nghiên mực như
vốn liếng vô giá của triều đ́nh nhà Nguyễn tỏ ra hẹp ḥi, nếu không nói là thiển
cận. Triều đ́nh nhà Nguyễn đă có cả trăm năm. Vật quư giá có cả trăm, cả ngh́n,
nay c̣n đâu?
Chỉ v́ một cái nghiên mực mất trong một t́nh trạng c̣n mơ hồ mà như thể có chủ
đích một lần nữa bôi nhọ một người đă chết. Việc làm đó, t́nh cảm đó, lối suy
nghĩ đó có nên chăng? Dùng cái nghiên mực như một viên đá một công đôi ba việc
để hạ một người thật chẳng đáng. Người viết xin đưa ra một chút tư liệu về tài
sản của triều đ́nh nhà Nguyễn để nếu có xót thương, nếu có tiếc th́ tiếc những
ǵ đă mất, đă bị ăn cắp, đă bị chiếm công vi tư gấp trăm, gấp ngàn viên đá
nghiên mực.
Chẳng hiểu, ông Nguyễn Đắc Xuân, một người nghiên cứu, sưu tập sách cổ, đồ cổ có
biết không, hay biết mà không nói?
Thứ nhất: Về tài liệu sách vở của triều đ́nh: Ngoài những sách như Đại Nam Thục
Lục, Đại Nam Nhất Thống Chí, Việt sử Thông Giám Cương Mục, Khâm Định Đại Nam Hội
Điển Sử Lệ cũng như Đại Nam Nhất Thống Chí. Chúng ta c̣n vô số các tài liệu tại
điện Đông Các, Càn Thành. Ai có bảo đảm cho biết hiện nay tại điện Đông Các, các
hiệp ước, các văn kiện trao đổi với ngoại quốc, các văn sách ngự chế, các địa đồ,
các sách quư thời Minh Mạng, các châu bản tức là các tấu chương được bút son của
vua ngự phê.. Cái nào c̣n, cái nào mất? Rồi c̣n các ấn tỷ của vua bằng vàng bằng
ngọc, có bao nhiêu cái?
Theo ông Laborde, các quyển kim sách là những văn kiện tấn phong của các vua,
sắc phong hoàng hậu và đông cung. Các sách này toàn bằng vàng mà chiều cao là 24
cm, ngang 13cm, khoen đóng bằng vàng, cân nặng 37 lạng vàng ṛng (vàng ṛng nặng
khoảng một kí lô 400). Mỗi quyển Kim Sách nặng hơn một kílô vàng, có bao nhiêu
vua chúa, có bao nhiêu hoàng hậu, đông cung th́ có bấy nhiêu quyển. Nay c̣n đâu?
Rồi những quyển ngân sách, tức những văn kiện tấn phong hoàng thân quốc thích,
hay cho các cung phi, cung nữ bằng bạc được khắc trên lá bạc nay cũng ở đâu?
Trong bài Văn Khố Triều Đ́nh Huế của cụ Nguyễn Hùng Cường đăng trên Tiếng sông
Hương, trang 67 cụ viết:
Không có người coi sóc, không có người chuyên môn trông
coi, chung quanh không có cửa, phần th́ bị mưa dột, các châu bản tàng trữ bị hư
hỏng nên đă đồng ư với ông Ngô đ́nh Nhu t́m cách cứu văn các châu bản. Nỗi lo sợ
khí hậu Huế ẩm ướt đă đi đến quyết định vào năm 1961 di chuyển một phần lớn lên
Đà Lạt.
Vào những năm 1959, Viện Đại học Huế giao cho giáo sư Trần Kinh Ḥa tổng kết,
đóng b́a, phân loại các châu bản đó cho đến 1963. Ngoài ra Uỷ Ban này nhờ cơ
quan Văn Hóa A Châu đă xuất bản Mục Lục Châu Bản Triều Nguyễn… Rồi được thành vi
phim hiện đang được tàng trữ tại thư viện Harvard-Yenching và thư viện đại học
Cornel ở Ithaca. Newyork.
Cụ đi đến kết luận: V́ vậy một phần lớn châu bản đă mất
tích, hiện giờ không có cách nào t́m lại hoặc bổ túc được.. Năm 1950, phúc tŕnh
của Ferrréol de Ferry, nguyên Giám đốc sở Văn khố và thư viện Phủ Cao Uy Pháp
tai Đông Dương, cho biết chứng tích cuối cùng c̣n lại của văn khố triều đ́nh Huế
tức văn khố Hoàng Triều, chính là cuốn Les Archives des Empereurs d’Annam et
l’histoire Annamite của Paul Boudet.
Thứ hai, những mất mát về tài sản triều đ́nh Huế kể sao cho xuể. Hăy kể một
trường hợp thôi, khi vua Bảo Đại thoái vị, chính quyền Cách Mạng mà ông Nguyễn
Đắc Xuân đă đi theo đă tiếp thu tài sản triều đ́nh Huế. Phải mất ba tháng mới
kiểm kê xong. Có bao nhiêu tài sản đă lọt vào tay chính quyền kháng chiến thời
đó, nay ở đâu? lọt vào tay ai? cất dấu hay bảo quản ở đâu? Có lẽ, đây là vấn đề
đáng quan tâm nếu ông Nguyễn Đắc Xuân thực sự có ḷng, thực sự muốn thu hồi lại
những gia sản đó.
Xin trích dẫn lại về bản kiểm kê của chính quyền nhân dân cách mạng qua cuốn
sách của Phạm Khắc Ḥe: Từ Triều đ́nh Huế đến chiến khu
Việt Bắc . Ông Ḥe là ngự tiền văn pḥng cho Bảo Đại, theo Việt Minh
phản chủ: Chiều ngày 27 và buổi sáng 28, tôi (tức Phạm
khắc Hoè) cho kiểm điểm lại các thứ tài sản trong Đại nội để trao cho chính
quyền Cách mạng. Nói đến của công trong Đại Nội lúc bấy giờ th́ quí giá nhất là
các đồ vật bằng vàng bạc, ngọc ngà, các châu báu có tính chất lịch sử của các
đời vua nhà Nguyễn, cất trong một cái hầm lớn dưới mái sau của điện Cần Chánh.
Sở Tài chánh trong Uy ban Nhân dân Trung bộ của ông Trần Hữu Dục đă phụ trách
tiếp thu những món báu vật của Triều đ́nh Huế. Sở tài chánh trước ngày
19-12-1946 đă chuyển tất cả di sản quư báu này ra Vinh, chứa cất tại nhà lầu của
ông Hoàng Cao Khải và con là Hoàng Mạnh Trí. (Tài liệu trích lại của Lê văn Lân
trong cuốn Chiếc bảo ấn cuối cùng, trang 49-50).
Trong Chuyện Cung đ́nh nghe kể lại của Vơ
Hương An, con cụ Vơ văn Lang có viết như sau: Khi nghe
kể việc bàn giao cho Việt Minh tất cả kim sách (Sách bằng vàng), ngân sách (Sách
bằng bạc) và các loại ấn, tôi ngạc nhiên hỏi: Theo con th́ vua bàn giao ấn kiếm,
tượng trưng vương quyền cho chính phủ Việt Minh như vậy là đủ rồi, c̣n kim sách,
ngân sách và các thứ ấn khác th́ coi như của riêng của vua, việc chi phải giao
cho họ. Thầy tôi trả lời:Khi nói tới bàn giao những ǵ, thầy cũng đem ư đó ra
tâu với Ngài, nhưng Ngài dạy rằng: nếu những thứ đó bằng sắt hay bằng đồng th́
không nói làm ǵ, ở đây nó bằng vàng. Nếu giữ làm kỷ niệm, người ta sẽ nghĩ rằng
ta c̣n tham. Cả cái ngai vàng ta c̣n chưa tiếc, tiếc chi mấy thứ đó.
(Trích lại của Lê văn Lân, Chiếc Bảo ấn, trang 51).
Xét như vậy, ông Nguyễn Đắc Xuân can đặt vấn đề với chính quyền đương đại về tài
sản mất c̣n của triều đ́nh Huế mà họ đă tiếp quản…Người viết c̣n nhớ câu nói của
Trần Huy Liệu xác nhận đă nhận đầy đủ tài sản và có làm giấy tờ hẳn hoi do hai
bên cùng kư nhận. Giấy tờ đó bây giờ ở đâu?
Tưởng rằng bài viết đến đây đă tạm đủ. Nếu có cần nói chi thêm chỉ xin nói một
câu như cựu hoàng Bảo đại đă từng nói: tiếc chi nữa, cái ngai vàng c̣n chả tiếc,
tiếc chi ba thứ lặt vặt khác.
Ông Nguyễn Đắc Xuân nay vẫn ngồi ôm mộng thu hồi lại di sản chiếc nghiên mực của
Tự Dức do lời trối trăn của cụ Sển, thầy ông. Đó là việc của ông, nhưng trước
sau nghiên mực cũng chỉ là một viên đá, dù là đá quư, c̣n mất có nghĩa ǵ so với
mất mát của triều đ́nh và mất mát của cả miền Nam. Quên đi có lẽ là hay nhất để
ít nhất cũng khỏi làm phiền ḷng nhiều người. Phải không ông?
Copyright © 2006 DCVOnline