|
TRUẤT PHẾ BẢO ĐẠI VÀ
KHAI SINH ĐỆ NHẤT CỌNG HOÀ
KƯ ỨC 50 NĂM SAU
Lâm Lễ Trinh
Trường hợp dẫn đến quyết định truất phế Bảo Đại.
Hoàng tữ Vĩnh Thụy (hay mệ Vững trong hoàng tộc), sinh ngày 22.10.1913 tại Huế
và mất ngày 31.7.1997 tại Paris, hưởng thọ 83 tuổi, là con trai duy nhất của vua
Khải Định và vị Hoàng đế chót của triều Nguyễn Gia Long.
Cuộc đời chính trị của ông có thể chia ra thành ba giai đọan: 1) Hoàng đế ,
1932-1945. 2) Quốc trưởng,
1949-1955, và 3) Lưu vong, 1955-1997. Khi vua Khải Định băng hà năm 1932 th́
Hoàng tử Vĩnh Thụy được 12 tuổi, đang du học tại Pháp dưới sự chăm
sóc của vợ chồng cựu Toàn quyền Charles. Ông trở về VN dự
lể tấùn phong và lên ngôi đưới danh hiệu Bảo Đại.
Nhựt đảo chính Pháp tại Đông Dương ngày 9.3.1945. Bảo Đại cho thành lập chính
phủ Trần Trọng Kim ngày 16.4.1945 theo lời yêu cầu của Đại sứ Yokoyama và tuyên
bố hủy bỏ tất cả các Hoà ước bất b́nh đẳng kư với Pháp năm Nhâm Tuất 1862, Giáp
Tuất 1874, Quư Mùi 1883 và Giáp thân 1884. Nhựt hoàng đầu hàng vô điều kiện ngày
15.8.1945, thủ tướng Trần Trọng Kim từ chức. Hai hôm sau, ngày 17 tháng 8, Việt
Minh (tức Mặt trận VN Độc lập Đồng Minh)
biến cuộc biểu t́nh lối 20.000 người được Tổng hội công chức phát động trước Nhà
Hát Lớn Hànội để ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim thành một cuộc tuần hành đ̣i
Độc lập. Lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện . Khâm sai Phan Kế Toại rút
lui, nhường chổ cho một Ủûy ban Nhân dân tạm thời, không nêu rỏ danh tánh các
thành viên. Ngày 19 tháng 8, Việt
Minh cướp chính quyền trong một cuộc binh biến mà chúng huênh hoang gọi là cuộc
Cách Mạng Tháng Tám hay Tổng Khởi Nghĩa.
Trường hợp dẫn đến sự thoái vị ngày 25.8.1945 được chính vua Bảo Đại kể lại
trong quyển hồi kư tiếng Pháp “Le Dragon d’Annam” (nxb Plon,
1- Bảo Đại và các đảng phái quốc gia không có một phương tiện thông tin đại
chúng nào trong tay và hoàn toàn mù tịt về những biến chuyển thế giới
ngoài Việt
2- Sự kiện nêu trên tạo ra một khoảng trống chính trị vô cùng có lợi cho Việt
Minh. Bảo Đại than phiền, nới trang 118-119 của hồi kư, các lănh tụ trong
khối đồng Minh, từ Truman, De
Gaulle, Quốc vương Anh cho đến Tưởng Giới Thạch, không một ai để ư trả lời thơ
xin ủng hộ của ông trong khi phiá CS được vơ trang và
đă bắt liên lạc với các cơ quan t́nh báo Mỹ, Pháp và Hoa. Bảo Đại viết: “ Tôi
không huy động được quần chúng, các người thân cận của tôi đều ẩn trốn
hay âm mưu chống tôi. Trần Trọng Kim và các Tổng trưởng biến mất
tất cả. Tôi cô đơn trong một thủ đô chết. Mọi việc có vẻ thuận lợi cho CS như
một phép lạ. Sự thành công không thể chối cải của họ có phải là dấu hiệu họ nhận
được một thiên mạng, mandat du ciel, hay không? Tôi phải rút lui, như họ đ̣i hỏi.
CS muốn làm cách mạng (révolution). Tôi sẽ thức hiện điều này không đổ máu.
Bằng một cuộc tiến tŕnh chính trị (évolution politique)”
(trang 119)
Với tinh thần chủ bại ấy, Bảo Đại sẳn sàng hàng đầu. Ngày 22.8.1945, Trưởng ty
Bưu Điện Huế mang tŕnh ông một điện tín ngắn gởi từ Hànội của một “Ủy ban
đaị diện các đảng phái và quần chúng yêu nước” kêu gọi nhà vua trao quyền
cho Nhân dân. Bảo Đại chưa từng gặp một lănh tụ Việt Minh nào nhưng tin nơi
“tính cách chân thành không chối cải” của tối hậu thơ (trang 118) . Bảo Đại
gởi hai cọng sự viên duy nhất c̣n lại là Hoàng thân Vĩnh Cẩn và Chánh văn Pḥng
Phạm Khắc Hoè ra điều tra ngoài Thành Nội, họ trở về tay không. Với sự giúp đở
của Vĩnh Cẩn, Bảo Đại liền thảo một điện văn trả lời mời Uûy ban gởi gắp đại
diện về Huế để làm lễ trao quyền.
Bảo Đại viết: “Tôi cho phóng thông điệp này vào không trung như thảy
một ve chai ra biển rộng.” Sáng 25 tháng 8, Trần Huy Liệu và Cù Huy
Cận xuất hiện, tuyên bố đại diện chủ tịch Hồ Chí Minh, để nhận ấn kiếm do Bảo
Đại trao lại tại Điện Kiến Trung, sau khi
nhà vua tuyên bố vắn tắc “Dân vi quư. Trẩm thà làm dân một nước độc
lập hơn làm vua một xứ nô lệ” trước một đám đông quần chúng “bỡ ngỡ,
kinh ngạc, như bị sét đánh” (Bảo
Đại viết).
3- Đa số lănh tụ các đảng chống Cộng nhận định về sau: Ngày 19.9.1945, Việt
Minh không mạnh như ngưới ta tưởng. Chúng thắng v́ có lănh đạo, tuyên truyền
giỏi, biết chụp thời cơ - v́ các đảng quốc gia lừng khừng, thiếu tổ chức và xâu
xé nôi bộ, mặc dù lúc đó Đại Việt Dân chính, Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt
Quốc Dân Đảng đă đồng ư thống nhất “trên nguyên tắc.” Hai cố nghị sĩ Trần Trung
Dung và Đặng Văn Sung đă xác nhận chua cay với người viết: Việt Minh đă phỏng
tay trên cánh quốc gia một cách dễ dàng. Đặc biệt, Bs Nguyễn Tường Bách, cựu chỉ
huy với Vũ Hồng Khanh Đệ tam chiến khu của VN Cách Mạng Đồng Minh Hội và VN Quốc
Dân Đảng, từ Vĩnh Yên tới Lào kay, thố lộ với người viết: Phe quốc gia lúc đó
không biết tí ǵ về chuyện Việt
Minh tổ chức một hội nghị quan trọng tại Tân Trào, Thái Nguyên.
Họ “vẫn ngây ngô tin rằng Nhật
c̣n đủ sức chống cự một thời gian nên không cấp tốc chuẩn bị tổng hành động hay
đảo chính!”
4. Để bào chửa quyết định thoái vị, Bảo Đại lập luận ông muốn tránh nội chiến và
bảo vệ sự thống nhất và dân chủ hoá Đất nước sau một thế kỷ Pháp thuộc. Một thời
gian ngắn sau, ông ra Hànội nhận
chức Cố vấn tối cao (bù nh́n) trong Chính phủ Liên hiệp do Hồ tổ chức và cầm đầu
ngày 11.11.1945 dưới áp lực của các đảng. Đầu tháng giêng 1946, Hồ gởi Bảo Đại
“đi nghỉ mát” tại Sầm Sơn. Một h́nh thức lưu đày. Để có thể trở về Hànội, cựu
Hoàng ngoan ngoăn nhận chức dân biểu
(bù nh́n) tỉnh Thanh Hoá trong Quốc hội Lập hiến với 92% thăm cử tri . Ông thú
nhận không biết rỏ bầu cử ngày nào,
không có bỏ thăm và cũng không hề
đi vận động bầu cử (trang 144). Chưa hết. Ngày 15.9.1946, Hồ sắp xếp cho Tổng
thống Tưởng Giới Thạch mời cựu Hoàng qua viếng Trùng Khánh. Đây là cách tống khứ
chướng ngại vật Bảo Đại ra khỏi VN. Bị lưu đày lần thứ hai, Bảo Đại trôi dạt về
Hồng Kông, tứ cố vô thân, sống lang bạt với vài mỹ kim trong túi. Giữa mùa hè
1948, Pháp làm sống lại “Giài pháp Bảo Đại”. Một số chính khách (Lưu Đức Trung,
Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Bảo Toàn, Trần Văn Lư, Đặng Văn Sung, Trần Trung Dung..)
rủ nhau bay sang Hồng Kông tiếp xúc với nhà vua (trang 161-172).
Trong Hồi kư, dù bị lợi dụng bỉ ổi, Bảo Đại tỏ ḷng khâm phục Hồ Chí Minh đă đối
xữ với ông “ một cách lịch sự, nể trọng, thân yêu như t́nh cha con, chẳng
những luôn luôn chăm lo vấn đề an ninh và sức khoẻ mà lại c̣n căn dặn nên thận
trọng trong việc giao dịch với phái yếu”(nguyên văn). Vào cuối cuộc đời, Bảo
Đại viết: Tôi không nghi ngờ bị chủ
tịch Hồ lừa phỉnh, tôi tiếp tục đóng kịch. Dù sao, tôi nghĩ ông ấy nhiệt t́nh
tranh đấu cho sự độc lập của xứ sở. Bất chấp dĩ văng và phương pháp của ông, tôi
thủy chung ủng hộ. Xét cho cùng, tôi thích thái độ của ông hơn thái độ của các
nhà lănh tụ quốc gia, bù nh́n thật sự trong tay Trung quốc, Tout bien
examiné, je préfère son attitude à celle des leaders nationalistes, véritables
fantoches entre les mains des Chinois (trang 139).
Cuộc sống lưu vong của Cựu Hoàng rất cô đơn tại
Những bí ẩn bên trong Hội Đồng Nhân Dân Cách Mạng
Bảo Đại đă nhân danh chống Pháp để thoái vị và trao quyền cho CS lănh đạo cuộc
chiến kết thúc bằng trận đaÙnh cuối
cùng tại Điện Biên Phủ ngày 7.5.1954. Oái oăm thay, chính đế quốc Pháp đă đặt
Bảo Đại trở lại trên ngai vàng để chống lại CS Bắc Việt sau khi, tại Hà Đông,
Cao ủy Bollaert tuyên bố Pháp muốn tái đàm với cánh quốc gia.Tháng 8.1948, Bảo
Đại chỉ định Trung tướng Nguyễn Văn Xuân thành lập “Chính phủ Trung ương Lâm
thời VN.”
Dưới sự lănh đạo của Quốc trưởng Bảo Đại, qua những nội các liên tiếp Nguyễn Văn
Xuân, Nguyễn Phan Long, Trần Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm và Bửu Lộc, Miền Nam VN rơi
vào cảnh hỗn loạn. Cuối cùng nhà vua phải kêu cứu đến
chí sĩ Ngô Đ́nh Diệm ngày 9.7.1954,
mặc dù trước đó ông Diệm đă ba lần thoái thác.
Hiệp ước đ́nh chiến Genève kư kết
ngày 21.7.1954 chia đôi VN nới vĩ
tuyến 17. Bảo Đại gây khó khăn cho ông Diệm bằng cách từ
Bị lấn vào chân tường, TT Diệm phúc đáp: Hội đồng Nội các không đồng ư để ông
xuất ngọai giữa t́nh thế rối ren của xứ sở và một Hội nghị các Chính đảng và
Nhân sĩ Quốc gia sẽ được triệu tập ngày29.4.1955 tại Dinh Độc Lập để cho biết ư
kiến “Thủ tướng có bổn phận thi hành lệnh triệu thỉnh của Quốc trưởng hay
không?”. Hội nghị này gồm có 18 chính đảng / đoàn thể và 29 nhân sĩ
Miền
Nhị Lang, tác giả của quyển sách “Phong trào kháng chiến Tŕnh
Minh Thế” (nxb Alpha, Virginia,1989), kể lại:
đúng 10 giờ sáng ngày ghi trên, Thủ tướng Diệm tiến vào pḥng họp với vẻ mặt ưu
tư, tuyên bố vắn tắc lư do, xong
kiếu từ ngay, “để Quư Ngài được
tự do thảo luận”. Hội nghị bầu Nguyễn Bảo Toàn vào ghế chủ tọa, Phạm Việt
Tuyền vào ghế Tổng thư kư. Như đă thoả thuận với nhau từ trước, Nhị Lang,
NBToàn và HHSơn khai pháo bằng cách
đặt thẳng với Hội nghị một vấn đề
duy nhất: truất phế Bảo Đại., khỏi bàn đến chuyện ǵ khác. Nếu Hội nghị từ chối
chương tŕnh nghị sự này, ba đoàn thể của họ sẽ rút lui liền. Bầu không khí cực
kỳ sôi động. Bên ngoài, lúc đó, từ cầu chữ Y, quân B́nh Xuyên pháo kích xung
quanh Dinh Độc Lập. Các tổ chức và phần tử ủng hộ từ lâu TT Diệm tỏ ra quá
khích. Nhà báo Bùi Quang Nga, bút hiệu Văn Ngọc, vừa hô to “Đả đảo Bảo Đại”, vừa
tuột giày, ném vào bức chân dung đồ sộ của Cựu Hoàng treo trên vách Pḥng Khánh
Tiết. Tiếp theo, nhiều nhân vật như Vũ Văn Mẩu, Hoàng Cơ Thụy…..công kênh Nhị
Lang lên vai họ để triệt hạ chân
dung này giữa tiếng hoan hô vang dội. Hội nghị bầu ra một Uûy ban cách Mạng, sau
đổi là Hội đồng Nhân Dân Cách mạng, rồi Hội đồng Nhân dân Cách mạng Quốc gia,
thể theo ư kiến của một số nhân vật “ôn hoà” lo ngại chính quyền Diệm sẽ không
kiểm soát nổi khuynh hướng cực đoan. Hội đồng này gồm có Nguyễn Bảo Toàn (chủ
tịch), Hồ Hán Sơn (Phó chủ tịch) Nhị Lang (Tổng thư kư) và một số ủy viên như
Hoàng Cơ Thụy, Trần Thanh Hiệp, Đoàn Trung C̣n, Hoàng Phố, Văn Ngọc, bà Đức Thọ,
Hùynh Minh Ư, Hà Huy Liêm và Nguyễn Hữu Khai. Cuối cùng, Hội nghị đưa ra một bản
Quyết nghị nảy lửa, gồm ba điểm: Truất phế Bảo Đại, giải tán Chính phủ Diệm và
ủy nhiệm chí sĩ N Đ Diệm thành lập Chính phủ Cách Mạng Lâm thời, tổ chức tổng
tuyển cử, tiến tới chế độ cọng hoà.
ïLúc 5 giờ chiều, sau phiên nhóm kéo dài 7 tiếng, chủ tịch Nguyễn Bảo Toàn mời
TT Diệm xuống pḥng họp nghe kết quả. Nhị Lang viết: “Khi Thủ tướng nghe xong,
tôi thấy mặt ông tái hẳn đi. Tôi chắc ông không ngờ Hội nghị này lại quay sang
một chiều hướng khác và lôi kéo ông đi một bước quá xa như vậy….. .Thủ tướng
Diệm lộ vẻ đăm chiêu và nói bằng một giọng trầm mặc: “Xin quư ngài cho tôi
được có thời giờ suy nghỉ kỹ về vấn đề trọng đại này!”(trang 310).
Qua ngày 30 tháng 4, lại một cuôc tập họp đông đảo khác tại Pḥng Khánh tiết Toà
Đô chính Sàig̣n để triệt hạ h́nh Bảo Đại và nghe N B Toàn, H H Sơn, Nhị Lang
tường tŕnh. Tŕnh Minh Thế, Nguyễn Thành Phương và Nguyễn Giác Ngộ xuất hiện,
dân chúng hoan hô. Một Hội Đồng Chỉ Đạo được thành lập, gồm có ba tướng giáo
phái này, để bao trùm lên Ủûy ban Cách Mạng, theo lời đề nghị đầy tham vọng của
Nguyễn Thành Phương. Khi sáu nhân vật vừa kể lập một phái đoàn vào Dinh Độc Lập
lúc 6 giờ chiều, để thông báo cho Thủ tướng th́ họ thấy lối 50 sĩ quan Quân đội
quốc gia có mặt ở tầng dưới và hai tướng Nguyễn Văn Vỹ và Lê Văn Tỵ trong pḥng
khách nhỏ ở tầng trên. Trong hối kư “VN Nhân Chứng” (nxb
Xuân Thu, 1989), Trân Văn Đôn kể
lại: Trưa 29.4.1955, Vỹ và Đôn đến nhà tướng Tỵ yêu cầu trao quyền cho Vỹ theo
sắc lệnh của Bảo Đại, ông Tỵ trả lời: “Tôi sẵn sàng nếu Thủ tướng ra lệnh”.
Tất cả đồng ư vào gặp Thủ tướng.
Chỉ có Đổ Cao Trí đ̣i ỏ lại: “Các anh vô đi. Nếu có ǵ xảy ra, tôi đến
vây Dinh Độc Lập.” Một bi kịch bất ngờ xảy ra làm đảo lộn lịch sử
Đất nước: Với sự chấp thuận của Tŕnh Minh Thế và Nguyễn Thành Phương, Nhị Lang
lặng lẽ đột nhập vào pḥng khách, chĩa thẳng khẩu súng Colt 45 vào người tướng
Vỹ, hô to: “Dơ tay lên, không tôi bắn!”. Vỹ hoảng hốt dơ tay khỏi đầu.
Tướng Tỵ liều mạng chạy lại ôm lấy Nhị Lang nhưng bị gạt ra. Nhị Lang gọi Hồ Hán
Sơn, chỉ về phiá Vỹ: “Hăy bốc ga lông của ông này cho tôi!”, Sơn
làm ngay. Phóng viên Francois Sully chụp được tấm h́nh và cho đăng vào báo Life,
số phát hành tháng 7.1955. Bộ trưởng Trần Trung Dung cấp báo với Thủ tướng: “Cụ!
Cụ! Chúng nó đang định bắt giết ông Vỹ!”. TT Diệm vội ra kéo Vỹ vào pḥng.
Cố vấn Nhu chạy đến can gián Nhị
Lang: “Thôi đừng nóng, mấy ông tướng đang họp bàn với cụ”
Trả lời người viết, Nhị Lang cho biết những diễn tiến sau đó: trong một buổi họp
liền tiếp theo giữa TT Diệm, Nhị
Lang, Hồ Hán Sơn và hai tướng Vỹ, Tỵ trong pḥng ngủ (vừa dùng làm văn pḥng)
cuả ông Diệm, tướng Vỹ cuối cùng – để được tự do – chịu kư một tuyên ngôn ngắn
“tự nguyện từ bỏ hết mọi quyền hành chức chưởng do Bảo Đại ban cho và
tự nguyện gia nhập hàng ngũ cách mạng” (nguyên văn). Ngoài ra, lấy lại được
chức Tham mưu trưởng, tướng Tỵ cũng bảo đảm “ Vỹ sẽ không làm phản”.
Trong suốt phiên họp, Đổ Cao Trí và hai tiểu đoàn Ngự Lâm quân bao Dinh Độc lập
để gây áp lực, không ngớt kêu vào xin nói chuyện với Vỹ.
Rốt cuộc, họ êm thấm rút lui v́ bị kềm kẹp giữa hai đối thủ, phiá trước là toán
binh pḥng vệ Dinh Độc Lập của đại tá Vinh, phiá sau là các đơn vị Cao Đài của
Nguyễn Thành Phương bố trí tại đường Trần Quư Cáp và Liên Minh của Tŕnh Minh
Thế phục kích ở đường Phan Đ́nh
Phùng.
Ngày hôm sau. theo Trần Văn Đôn trong hồi kư, tướng Vỹ họp báo cho biết Quân đội
sẽ đảo chính v́ TT Diệm bị Thế, Toàn và Nhị Lang lấn quyền. Các sĩ quan nhóm, có
mặt Nguyễn Hữu Có, Dương Văn Đức, T V Đôn..vv.. Lê Văn Tỵ hỏi: Các anh làm ǵ
đó? Vỹ đáp: Tôi đảo chính!. Tỵ: Anh lấy ǵ để đảo chính? Vỹ:
Quân đội. Tướng Tỵ lột sao cuả ḿnh bỏ xuống bàn: “Tôi lột lon trao cho
anh đây. Tôi không theo anh đâu!”
Nguyễn Văn Vỹ và Nguyễn Tuyên bay lên Đà Lạt, từ đó qua Cao Miên rồi sang Pháp
sống lưu vong. Điểm đáng lưu ư là trong quyển “Le Dragon d’Annam”, Bảo
Đại rất vắn tắc, không kể lại những chi tiết trên đây, chỉ ghi rằng ông đồng ư
cho tướng Vỹ đảo chính TT Diệm và phủ nhận tính cách hợp pháp của Hội Nghị Toàn
Dân ngày 29 tháng 4.
Ngô Đ́nh Diệm có sẳn sàng truất phế Bảo Đại hay không?
Đa số các tác giả trà lời: Không. Trừ Đổ Mậu (“VN Máu Lửa Quê Hương
tôi” nxb Hoa kỳ 1986) . Tất cả những ai từng tiếp xúc với ông Diệm đều nhận
xét ông luôn luôn giữ thái độ khiêm
cung thành tín khi nói đến các vua
chúa triều Nguyễn , kể luôn Bảo Đại,
mà ông không bao giờ phê b́nh thiếu lễ độ. Người viết c̣n nhớ: Sau 1956, khi ban
sắc lệnh cải tổ hành chính, Tổng thống Diệm đặt trọng tâm vẽ lại bản đồ các tỉnh
Miền
Chính Nhị Lang thường xác nhận nhiều lần với người viết rằng Thủ tướng Diệm
không hiện diện khi Hội Đồng Cách Mạng lấy quyết định truất phế Bảo Đại, ông
Diệm tỏ vẻ không thoải mái nhận quyền ủy nhiệm của Hội đồng và không ngờ mọi
việc diễn tiến ngoài mọi dự tính như vậy. Nhị Lang viết trong Hồi kư: “Cái Ủy
Ban Chỉ Đạo do sáng kiến của Nguyễn Thành Phương đă gieo nghi ngờ trong ḷng Thủ
tướng chính phủ càng ngày càng ác cảm với tướng Phương và đưa Phương đến chổ suy
bại.” Để kềm hảm những thành
phần “cách mạng quá khích”, ông Nhu gài những cán bộ thân tín như Hà Huy Liêm,
Văn Ngọc, Nguyễn Hữu Khai và Hùynh Minh Ư vào Hội Đồng để gây lục đục. Mặt khác,
Bộ trưởng Thông tin Trần Chánh Thành và tướng Nguyễn Ngọc Lễ, TGĐ
Cảnh sát- Công An, áp dụng nhiều biện pháp tạo khó dễ.
Chuyện ǵ đă xảy ra cho các lănh tụ cốt cán trong Hội Đồng Cách Mạng và
Ủûy ban Chỉ Đạo?
1.
Chủ tịch Nguyễn Bảo Toàn, đứng đầu Lực lượng Hoà Hảo (tổ chức đông và
mạnh nhất năm 1955), từ chức, trốn qua Phi
Luật Tân, rồi bị thủ tiêu khi trở lại VN. Ông là nhân vật từng ủng hộ Giải pháp
Bảo Đại và sáng lập viên Mặt trận Thống nhất Quốc gia với Nguyễn Hải Thần và
Nguyễn Tường Tam. Cựu đại tá Nguyễn Văn Y, nguyên cục trưởng Trung ương T́nh báo
và TGĐ Công an thời Diệm, hiện ở Virginia, quả quyết với người viết rằng Hội
đồng Quân nhân năm 1963 vu oan ông đă giết N B Toàn. Theo ông, công tác này có
thể do nhóm Lê Quang Tung hay Dương Văn Hiếu thi hành theo lệnh của Ngô Đ́nh
Nhu.
2.
Hồ Hán Sơn, gốc Hà Tỉnh, vào
của Nguyễn Thành Phương, đuợc Hộ pháp Phạm
Công Tắc vinh thăng Đại tá Cao Đài,
tác giả “Nghệ thuật Chỉ đạo Chiến tranh” từng làm say mê Tŕnh Minh Thế.
Người lùn thấp, đầu tóc bờm xờm, ăn nói ngang tàng, đă tổ chức một lớp huấn
luyện chính trị cho các sĩ quan Cao Đài. Sau biến cố tháng 4.1955, Sơn thất
sủng, rồi bị Nguyễn Thành Phương (lúc đó xoay qua chống N Đ Diệm) đưa ra xử tại
một phiên họp cao cấp Cao Đài tại số 195 đường Công lư Sàig̣n, chỉ v́ Sơn đi
dùng cơm với Bộ trưởng Trần Chánh Thành, hành động coi như “đào ngũ, tư thông
với địch”. Ở tù tại Bến Kéo, Tây
Ninh, Hồ Hán Sơn bị trung úy N.N.V, bí thơ của tướng Phương, hạ sát, ném thây
xuống giếng. Theo Nhị Lang kể lại, năm 1961, H M H., em ruột của Sơn, định truy
tố Nguyễn Thành Phương trước Toà án, Nhị Lang khuyên y bỏ qua nội vụ.
3- Nhị Lang, tên thật là Thái Lân, xin tị nạn tại Nam Vang cuối 1955 và chỉ trở
lại VN sau vụ đảo chính 1963. Đảng viên VN Quốc Dân Đảng, rể của Nhất Linh, ôâng
làm cố vấn từ 1951 cho Tŕnh Minh Thế, lănh tụ nhóm Cao Đài kháng chiến Liên
Minh. Trả lời người viết, Nhị Lang cho biết lư do phải trốn qua Cam-bốt là để
tránh sự đàn áp từ một số cơ quan chính quyền. Đặc biệt, Trần Chánh Thành và
Nguyễn Ngọc Lễ đă vu khống ông bỏ túi trên một triệu bạc cấp cho Hội đồng Cách
Mạng. Có một lần, Nhị Lang bị nhân viên cảnh sát của Trần Bá Thành chận bắt,
phải nhờ Bộ trưởng Nội vụ Bùi Văn Thinh can thiệp mới được thả.
Lư do khác là Nhị Lang bị kẹt giữa hai lằn đạn, hai tướng Cao Đài Nguyễn Thành
Phương (Ṭa thánh Tây Ninh) và Văn Thành Cao (Liên Minh kháng chiến, thay Tŕnh
Minh Thế tử trận ngày 3.5.1955) tranh dành ngôi vị, không v́ lư tưởng. Nhị Lang
cũng đă bút chiến
dai dẳng với Đổ Mậu tại Hoa kỳ v́
Mậu tố ông cọng tác với Sihanouk và
CS Mai Văn Bộ. Theo Nhị Lang, Sihanouk đă từ chối trục xuất ông khỏi Cam-bốt
theo lời yêu cầu của Bộ trưởng tại Phủ Tổng thống Nguyễn Hữu Châu. Năm 1970, Nhị
Lang giữ vai tṛ Tổng thơ kư trong “Ủûy ban phối hợp Hành động các Chính đảng” –
một tổ chức hữu danh vô thực – để giúp cựu chủ tịch Quốc hội Trương Vĩnh Lễ
ra ứng cử Phó Tổng thống trong liên danh Nguyễn Cao Kỳ
tranh với Nguyễn Văn Thiệâu và Dương Văn Minh. Một điều khó hiểu là Nhị Lang
luôn luôn ca tụng TT Diệm và Cố vấn Nhu. Cho đến ngày ông qua đời năm ngoái ở
tiểu bang
4- Nguyễn Thành Phương, Tổng tư
lệnh Cao Đài Tây Ninh, lănh tụ Việt
Phục quốc Hội, được TT Diệm vinh thăng
Trung tướng, v́ thế ủng hộ mạnh mẽ Chính phủ lúc đầu. Hằng tháng, Phương lănh
được một quỹ đen, nói là để giúp quân đội Cao Đài. Ư đồ của Phương lũng đoạn
chính phủ bằng Uûy ban Chỉ đạo nóí trên
quá lộ liểu nên gây ngờ vực. Sau ngày Tŕnh Minh Thế tử trận, Phương
mất chức Quốc vụ khanh và ra mặt chống Diệm cay cú. Phương ra ứng cử Phó Tổng
thống, chung liên danh với Nguyễn Đ́nh Quát chống lại Ngô Đ́nh Diệm. Ngày
31.3.1955, khi được biết Đức Hộ pháp Phạm Công Tắc định
thay thế ông trong vai tṛ quân sự
cao nhất trong Đạo, ông quyết định ra tay trước bằng cách “quốc gia hoá” toàn bộ
Quân đội Cao Đài, giao cho Chính
phủ. Mặt khác, ông phát động một chiến dịch bôi nhọ Toà thánh Tây Ninh khiến
giáo chủ Phạm Công Tắc phải cùng
với Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa qua tị nạn tại Cao Miên. Nơi đây, P C Tắc ngă hẳn về
đường lối trung lập và xây cất một thánh thất đồ sộ, được nửa chừøng th́
Sihanouk ra lệnh phải ngưng. Đức Hộ pháp qua đời tại Nam Vang năm 1959. Sau
1975, một nhóm tín đồ vận động đem xác về chôn tại Tây Ninh.
Với cuộc trưng cầu dân ư ngày 26.10.1955, Thủ tướng Diệm trở thành Tổng thống.
Chính quyền hạ ngón độc thủ, cho mở ngày 15.2.1956 Chiến dịch B́nh định Miền
Đông do tướng Văn Thành Cao – đối thủ của Phương - phụ trách, với Bộ chỉ huy đặt
ở Toà thánh Tây Ninh. Nguyễn Thành Phương hoàn toàn thất sủng, bị lấy lại công
thự số 195 Công Lư. Cuộc đời chính
trị cuả y chấm dứt thê thảm. Trong cảnh túng thiếu, nghèo nàn.
5- Tŕnh Minh Thế là một anh hùng yểu số. Đêm 6.6.1951, đại tá Tham mưu trưởng
Cao Đài Tŕnh Minh Thế bất thần “thoát ly” với một số chiến sĩ vào rừng Bưng Rồ,
Tây Ninh, để lập chiến khu
“chống cộng, đả thực và bài phong”. Đường lối này thích hợp với chủ trương của
TT Diệm và đắc nhân tâm hơn các giáo phái khác, phần đông thân Pháp và ủng hộ
Bảo Đại. Tuy rất trẻ – 29 tuổi – Thế có một kinh nghiệm khá vững về du kích
chiến nhờ được Nhật huấn luyện. Ngày 20.8.1951, một Hội nghị đại biểu nhóm tại
G̣ Ngải và cho ra đời “Mặt trận Quốc gia Kháng chiến VN”. Quân đội Quốc gia Liên
Minh lập hai chiến khu ở Núi Bà Đen
và Bù Lu. Mau chóng, tổ chức này gây tiếng vang nhờ tài lănh đạo của Thế. Tŕnh
Minh Thế sinh năm 1922 tại quận G̣ Dầu, Tây Ninh, trong một gia đ́nh nông dân,
học lực chỉ đến mức primaire nhưng rất thông minh và yêu nước nồng cháy. Toà
thánh Tây Ninh và tướng Nguyễn Văn Thành, Tổng tư lệnh Quân đội Cao Đài, gây khó
cho tập thể Liên Minh bằng cách phong toả lương thực và cho tảo thanh trừng phạt
nhiều phen.
Ba thành tích làm cho trùm CIA Edward Lansdale chú ư đến Thế: vụ cho bom nổ chậm
trước nhà Hát Tây Saigon, vụ mưu sát tướng Pháp Chanson và Thủ hiến Thái Lập
Thành tại Sadec và vụ bắt cóc Trần Quang Vinh (thân Pháp, thân Bảo Đại) mà Đức
Hộ pháp Phạm Công Tắc định bổ nhiệm để thay thế tướng Nguyễn Văn Thành.
Sau nhiều lần viếng thăm chiến khu Liên Minh, Lansdale móc nối cho cố
vấn Ngô Đ́nh Nhu tiếp xúc thẳng với
Thế. Hoa kỳ đầu tư chính trị vào Liên Minh.
Ngày 31.1.1955, Thủ tướng Diệm đích thân đến
Ḷ G̣, Tây Ninh, gần căn cứ Bầu Gơ của Liên Minh, mời Thế về hợp tác theo những
điều kiện thỏa thuận giữa Nhu và Thế. Ngày 13.2.1955, một buổi lễ long trọng
được tổ chức tại đại lộ Nguyễn Huệ
Sàigon, trước sự hiện diệïn của đầy đủ ngoại giao đoàn,
để trên 8.000 quân Liên Minh gia nhập Quân đội Quốc gia. Thế nhận từ tay Thủ
tướng mũ nón và ngôi sao Thiếu tướng.
Trươcù ngày về hợp tác, Thế làm một cú ngoạn mục gọi là quà sơ kiến, một món quà
có lẽ làm hai ông Diệm, Nhu khá bỡ ngỡ: bắt giữ (và thu âm lén) Bs Phạm Hữu
Chương, Tổng trưởng Xă hội, v́ Chương thừa dịp viếng Tây Ninh, đến quyến rũ Thế
bắt tay với Pháp. Hai nhân vật nhờ móc nối với Tŕnh Minh Thế mà được bổ nhiệm
vào Nội các là Huỳnh Hữu Nghĩa (Lao động) và Lê Văn Đồng (Canh Nông).
Ngày 28.3.1955, đáp lời mời của Tổng thống Nam Dương Soekarno, Chính phủ cử Tổng
trưởng Kế hoạch Nguyễn Văn Thoại, cựu giáo sư Collège de France, hướng dẫn một
phái đoàn dự Hội nghỉ Á Phi tại
Bandung. Có đủ mặt lănh tụ:
Nehru, Chu Âân Lai, Nasser, Sihanouk, Abdul Rhaman..v..v.. T M Thế xin phép tháp
tùng, TT Diệm nể t́nh chấp nhận. Cánh Nguyễn Thành Phương gởi Hồ Hán Sơn làm
quan sát viên. Tại Bandung, Thế và Sơn tự ư – không bàn trước nội
dung với trưởng phái đoàn - thảo
một “Tờ Hịch” bằng Anh ngữ tố cáo
Xă hội chủ nghiă. Thế đích thân ôm
đi phát cho các phái đoàn trong lúc trên bục,
đại diện các nước trung lập thao thao đề cao “5 nguyên tắc sống chung hoà b́nh.”
Theo Trần Văn Đôn (VN Nhân chứng, trang 132), Nguyễn Văn Thoại đă kư vào
bản tuyên cáo chủ trương phi liên kết. Ngày 10.5.1955, TT Diệm cải tổ Nội các,
Nguyễn Văn Thoại bay chức.
Uy danh của tướng Thế qua mặt Tổng tham mưu trưởng Lê Văn Tỵ và trung tá Quân
trấn trưởng Dương Văn Minh, thấy rỏ.
Bởi thế, phần đông sĩ quan trong
Quân đội lúc đó - do Pháp để lại - không khỏi xầm x́ ganh tị.
Cũng trong thời gian này, Mặt Trận Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia (gồm có Cao Đài,
Hoà Hảo, B́nh Xuyên, Liên Minh và Dân Xă của tường Lê Quang Vinh) kư chung một
bản tuyên ngôn đoàn kết và cử phái đoàn trao cho Thủ tướng Diệm một tối hậu thư
buộc phải cải tổ ngày 2 tháng 5 là thời hạn chót. Được Mỹ ủng hộ âm thầm, ông
Diệm từ chối. Để cứu Chính phủ, tướng Thế
họp báo tuyên bố Liên Minh rút khỏi Mặt trận. Bảy Viễn bắt đầu cho pháo kích
Dinh Độc Lập. Mọi việc diễn tiến mau lẹ ngày 29.4.1955 như ghi trên. Ngày
3.5.1955, bất ngờ Thủ tướng Diệm cử
Thế tấn công B́nh Xuyên, dù ông dư biết
mối giao hăo cá nhân tốt giữa hai bên. Phải chăng để thử ḷng? Một thâm mưu?
Tướng Thế nhận sự bổ nhiệm đầu tiên này.
Theo Nhị Lang kể lại: Đúng 7 giờ chiều ngày 3 tháng 5, Thế mất trong lúc ông
đích thân đứng trên chiếc quân xa đi đầu
để chỉ huy lính Liên Minh tiến qua cầu Tân Thuận, phiá Nam Sàig̣n. Một viên đạn
carbine duy nhất bắn rất gần vào lỗ tai bên phải xuyên qua mắt trái.
Thế chết tức tốc. Người bắn viên đạn núp dưới chân cầu
không thể cách xa mục tiêu hơn 10
thước. Khi đem xác về căn gác nhỏ ở đường Trương Minh Giảng th́ tṛng mắt và hàm
răng giả của tướng Thế đă bay mất. Thủ tướng Diệm và cố vấn Nhu đ̣i đến thăm
liền. Nhị Lang đề nghị đợi đến hôm sau v́ lư do an ninh. Tờ mờø sáng ngày
4.5.1955, hai ông Diệm, Nhu đến .
Tháp tùng có tướng Tỵ, toàn thể Nội các và Bộ Tham mưu. Thủ tướng đầm đià nước
mắt, ôm gh́ thi hài tướng Thế và ngất xiủ. Ông Nhu th́ quỳ bên giường, nắm tay
người chết, vưà kêu than ai oán “Anh Thế ơi”. Chính phủ vinh thăng T M
Thế lên trung tướng và tổ chức lễ quốc táng ngày 6 tháng 5.
Thế có mặt tại Sàig̣n vỏn vẹn 80 ngày. Đại tá Văn Thành Cao, tay mặt của Thế,
thăng cấp thiếu tướng. Lúc Thế tử
trận, Cao về Đồng Tháp Mười để kiếm thêm viện binh Liên Minh v́ Thế không dùng
lính quốc gia, theo lời Nhị Lang.
Về cái chết của tướng Thế, có nhiều giả thuyết: Sau 1975, cựu trùm Đệ nhị pḥng
Savani viết một bài thú nhận đă chủ mưu giết Thế để trả thù các tội ác chống
Pháp. Nhị Lang, trong Hồi kư, th́ quy trách cho Mai Hữu Xuân và cực lực phản bác
tin đồn vô căn cứ là do lệnh của
ông Nhu, để trừ hậu hoạn. Trong
nhiều đọan của hồi kư, trang 395 và tiếp
theo, Nhị Lang than phiền Văn Thành Cao bỏ rơi Liên Minh để thụ hưởng, khiến cho
một số sĩ quan của Thế trở vào bưng
biền đầu tháng 9.1955 v́ cho rằng chính quyền Diệm không thi hành các cam kết
ngày 31.1.1955 tại Ḷ G̣. Có lẽ v́ sự bất măn đó, họ phao đồn Cao có liên hệ đến
vụ bắn Thế. Cuối 1956, Cố vấn Ngô
Đ́nh Nhu có trao cho người viết
(phụ trách Bộ Nội vụ) một hồ sơ
tố Cao dự trử vơ khí riêng. Tướng
Cao có giải thích với người viết đây chỉ là một việc tư thù. Nội vụ được xếp.
Cao là sĩ quan mang danh hiệu Liên Minh duy nhất được Đệ nhất và Đệ nhị Cọng hoà
trọng dụng trong nhiều chức vụ (kể cả Đại biểu Chính phủ Miền Đông năm 1960, Ủûy
ban Lănh đạo Quốc gia thời N V Thiệu, Pḥng nghiên cứu du kích chiến, Bộ Tổng
Tham Mưu..v..v..). Sau 1975, ông bị đi cải tạo trên mười năm. Ông là một người
thân tín của cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Năm 1999, qua sự giới thiệu của cựu đại tá Cao Đài Đặng Quang Dương, hiện ở
Dallas, nay trên 90 tuổi, cấp chỉ huy củ của Thế và Cao, người viết gặp
tại Orange County bà quả phụ Tŕnh Minh Thế nhủ danh Nguyễn Thị Kim (hiện ở
Calgary, Canada) và đặt câu hỏi. Bà Thế không đồng ư với Nhị Lang và có vẻ ấm ức
nhiều chuyện. Cái chết của tướng Thế c̣n có ẩn khúc. Đặc biệt, tướng Lansdale,
trong hồi kư, cũng không quy trách rỏ ràng cho ai cả. Thời Đệ nhị Cọng hoà, ông
có trở qua VN, đứng chủ hôn cho Tŕnh Minh Nhựt, trưởng nam của Thế, cưới vợ.
Cuộc trưng cầu dân ư ngày 26.10.1955
Quyết nghị ngày 29.4.1955 của Hội đồng Nhân Dân Cách Mạng khiến
Thủ tướng Diệm không thể tránh tổ chức Trưng cầu Dân ư, dù muốn hay không. Trong
thâm tâm, là một quan
lại của Triều d́nh, ông Diệm bảo hoàng và rất lo ngại phạm tội khi quân
(crime de lèse majesté). Nếu không bị Bảo Đại lấn ép quá đáng, ông
không bao giờ có thái độ phạm thượng. Cố vấn Nhu, vốn không có cảm t́nh với chế
độ quân chủ, dứt khoát hơn. Vấn đề là chụp thời cơ, đừng để quyền lực vuột khỏi
tầm tay, chận các khuynh hướng quá khích - phiá quốc gia cũng như giáo phái đối
lập - khuynh đảo chính phủ. Trong
t́nh thế nguy kịch, gần như tuyệt vọng, Ông Diệm rất cần sự ủng hộ của thực lực
Tŕnh Minh Thế, được Lansdale bảo đảm, nhưng ông cũng biết Thế là một con dao
hai lưỡi, một con ngựa bất kham, có nhiều cao vọng. Thế đă cố gắng thuyết phục
ông Nhu - nhưng thất bại -
vượt Bến Hải, chiếm hai tỉnh địa đầu Bắc Việt lập cái thế quân b́nh. Thế tánh
t́nh bộc trực, ngang tàng, độc lập. Thế có đầu óc chính trị, tuy hợp tác với
Chính phủ nhưng vẫn giữ mối giao hảo thân t́nh với Năm Lửa, Bảy Viển và đặc biệt
Ba Cụt . Có lần Lê Quang Vinh và vợ là Cao Thị Nguyệt vào chiến khu thăm Thế,
hai bên có vẻ tâm đầu ư hợp. Nhị Lang kể lại trong hồi kư, trang180: Trước khi
ra về, Ba Cụt nói với Thế: “Miền Đông có anh, Miền Tây có tôi, chúng ta sợ ǵ
lũ cộng sản?” Tuy nhiên, theo gót “thầy dùi” Lansdale, vai tṛ king maker
của Thế lộ liểu quá sớm. Điều này không khỏi làm Ngô Đ́nh Nhu suy nghĩ.
NẾU (người viết nhấn mạnh vào chữ nếu) Thế
dẹp ï được B́nh Xuyên năm 1955– một
bài toán t́nh cảm đối Thế – và NẾU
Ba Cụt không bị xử tử năm1956 th́ chuyện ǵ xảy ra? Tŕnh Minh
Thế sẽ lên thế Tổng tham mưu trưởng Lê Văn Tỵ? Bao lâu, TT Diệm (và ông Nhu) có
thể kiểm soát một Tŕnh Minh Thế ngang tàng và một Lê Quang Vinh ngang ngược
trên con đường phản lọan? nhất là từ 1960 Hoa kỳ bắt đầu bỏ rơi chế độ Diệm? Hoa
kỳ sẽ dùng Thế và Vinh chống Diệm cách
nào? Đó là bi kịch của Miền Nam VN.
Lịch sử sẽ không thể phủ nhận nhóm Tŕnh Minh Thế đă đóng một vai tṛ quyết đinh
chuyển Miền Nam VN từ
thời đại quân vương qua chế độ dân chủ. Nền Đệ nhất Cọng hoà khó thể ra đời sớm
nếu thời cuộc không diễn tiến bất ngờ như trên, ngoài mọi ức đoán của cả Thủ
tướng Ngô Đ́nh Diệm và Hoàng đế Bảo Đại.
Lịch sử cũng không thể quên cố vấn
Ngô Đ́nh Nhu là một nhà mưu
lược thượng thặng, trong că hai nghĩa tốt và không tốt.
Trong VN Nhân Chứng, trang 133, Trần Văn Đôn viết: Theo ông Nhu kể lại,
trước ngày trưng cầu dân ư, TT Diệm tự tay viết một là thư dài giải thích t́nh
h́nh và mời Bảo Đại về nước lănh đạo nhưng Cựu hoàng
đ̣i một triệu mỹ kim. Trong Le Dragon D’Annam, trang 342,
Bảo Đại cho biết ông không đồng ư lập một chính phủ lưu vong, không chịu
« dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mới » và phủ nhận chính sách Ngô Đ́nh
Diệm. Cựu chủ tịch Quốc Hội Trương Vĩnh Lễ nhận xét nơi trang 30 của hồi kư “VN,
Où est la Vérité? ” (nxb Lavauzelle, Paris
1989): Trên phiếu, dân chúng có thể chọn trả lời một trong hai câu hỏi : 1) tôi
truất phế Bảo Đại và chọn N Đ Diệm như
Tổng thống VN với sứ mạng lập một thể chế cọng hoà
hay 2) tôi không truất phế bảo Đại và không công nhận N Đ Diệm như Tổng thống
để thành lập thể chế cọng hoà. Kết quả: ông Diệm thắng 98.2%.Tỷ lệ này có vẻ
không hoàn toàn trung thực, dù quần chúng mến mộ nhiệt t́nh ông Diệm lúc đó.
Bầu Quốc hội Lập hiến (tháng 3.1956) và
ban hành Hiến pháp Đệ nhất Cọng hoà (ngày 26.10.1956).
Quốc hội Lập hiến gồm có 134 dân biễu
thuộc bốn đảng thân chính phủ, không có đối lập. Ủy ban soạn thảo Hiến pháp gồm
có Trần Văn Lắm (chủ tịch), Trần Chánh Thành, Trần Trung Dung, Vũ Quốc Thông và
Trương Vĩnh Lễ. Hiến pháp phỏng theo các hiến pháp Hoa kỳ và Pháp. Phủ Tổng
Thống đề nghị tu chính một số điều khoản, Quốc hội chấp thuận. Việt Nam là một
nước Cọng Hoà theo thể chế độc viện,
có một Tổng thống và Phó Tổng thống cử theo lối phổ thông đầu phiếu. Hiến pháp
không chấp nhận một người có thể nắm giữ hai chức Hành pháp và Lập pháp. Không
có điều khoản nào cho phép truất phế, impeach,
khi Tổng thống phạm trọng tội. Ngày 26.10.1956 ban hành
Hiến pháp được chọn làm Ngày Quốc
khánh. Trần Văn Lắm và Vũ Quốc Thông là chủ tịch và phó chủ tịch đầu tiên của
Quốc hội.
Uy quyền của Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm mổi ngày thêm vững, ít nữa cho đến cuối
1960. Ngày 20.7.1955, Chính phủ Diệm tuyên bố không chấp nhận chuẫn bị tổng
tuyển cử qui định bởi Hiệp ước Genève. Với sự cọng tác của Bộ Nội vụ do người
viết phụ trách, Hội đồng Nhân Dân Cách mạng tổ chức một cuộc biểu t́nh vỉ đại để
đuổi về Bắc phái đoàn Văn Tiến Dũng
trong Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đ́nh chiến (gồm có Ba Lan và Aán độ). Văn pḥng
đại diện CS đặt tại khách sạn Majestic, Bến Bạch Đằng. Majestic bị phóng hoả,
gây thiệt hại trên 5 triệu bạc, cũng như một khách sạn khác mang tên Galliéni ở
đường Trần Hưng Đạo. Văn Tiến Dũng và các đồng chí thoát thân về trại của chúng
ở Gia Định, bên cạnh nhà thương Nguyễn Văn Học. Nhiều ngày liên tiếp, đồng bào
di cư, sinh viên, học sinh..cô lập họ bằng những lời chửi rủa thậm tệ. Điện,
nước, lương thực bị cúp hoàn toàn. Cuối cùng Uûy Hội liên lạc với chính phủ xin
bảo đảm cho phái đoàn Bắc Việt rời Sàig̣n. Tổng Nha Cảnh sát / Công An cho
những chiếc xe nhà binh bít bùng chở chúng lúc trời hừng sáng đến Tân Sơn Nhứt
dưới sự đả đảo vang dậy của quần chúng. Tác giả bài này đích thân đến phi trường
kiểm soát mọi thủ tục. Vào lúc máy bay Uûy hội sắp cất cánh, một sĩ quan CS
hốc hác, đầu đội nón cối, không
mang phù hiệu, bước đến chào người viết theo lối nhà binh, tự xưng là thiếu tá
Văn Tiến Dũng. Y tỏ lời cám ơn giúp
phái đ̣an ra đi trong trật tự.
Kết luận
Năm chục năm thấm thoát
trôi qua. Dở lại những trang sử củ, ḷng buồn vô hạn. Chính trị đă đẩy xứ sở
xuống đến tận đáy vực của tang tóc và chia rẻ, nhân danh một cuộc chiến tương
tàn do Đế quốc giựt dây. Đất nước đă thí nghiệm đau đớn nhiều thể chế: Quân chủ,
Dân chủ và Xă hội chủ nghĩa. Đến nay, vẫn chưa t́m ra đáp số
cho các vấn đề Chậm tiến, Tự Do và Thống Nhất. VN vẫn là một con thuyền say,
trôi dạt không bờ, không bến. Nhóm
cầm quyền ở Hànội vẫn bịt mắt trước cảnh khổ nhục của Việt Nam. Chừng nào chúng
mới thức tỉnh?
LÂM LỄ TRINH
Thuỷ Hoa Trang
Ngày 9.10. 2005
Tài liệu tham khảo:
1 – “Le Dragon d’Annam” by S.M Bảo
Đại, Plon, Paris 1980
2- “VN, Où Est La Vérité ? «
by Trương Vĩnh Lễ, Lavauzelle, Paris 1989
3 – « Việt Nam Nhân chứng » by
Trần Văn Đôn, nxb Xuân Thu,
Californie, 1989
4- « Phong trào Kháng Chiến Tŕnh Minh
Thế » by Nhị Lang, nxb Alpha, 1989
5- « VN Máu Lửa Quê Hương Tôi » by Đổ Mậu. Nxb Hoa kỳ, 1986,
Californie
|