Sự Thành Lập Đảng Cộng Sản
Đông Dương
Trần Gia Phụng
- Bài 3: ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG
Cuộc tranh chấp giữa các kỳ bộ VNCMTNH trong nước xảy ra sau Đại hội ĐTQTCS kỳ 6
vào tháng 7-1928. Lúc đó, Stalin kế vị Lenin, làm bí thư thứ nhất đảng CSLX. Chủ
trương mới của đảng CSLX do Bukharin đưa ra trong Đại hội ĐTQTCS kỳ 6 là thực
hiện cách mạng “vô sản quốc gia”, tức bỏ qua vấn đề cách mạng dân tộc. Kỳ bộ Bắc
Kỳ của VNCMTNH do Trần Văn Cung, Ngô Gia Tự, Trịnh Đ́nh Cửu, Nguyễn Đức Cảnh,
Dương Hạc Đính lănh đạo, bí mật họp tại Hà Nội tháng 3-1929, thành lập Đông
Dương Cộng Sản Đảng để thực hiện những chủ trương mới của ĐTQTCS.
Trước t́nh h́nh mới, tháng 5-1929, Lâm Đức Thụ (Nguyễn Công Viễn), với tư cách
uỷ viên tổng bộ VNCMTNH, triệu tập Đại hội lần thứ nhất (lần duy nhất) của
VNCMTNH tại Hương Cảng. Có 5 phái đoàn tham dự: 1) Đại diện tổng bộ là Lê Hồng
Sơn (Lê Tán Anh), Lâm Đức Thụ (Nguyễn Công Viễn), Lê Huy Điếm (Lê Lợi), Lư
Phương Đức. 2) Đại diện xứ bộ Xiêm La là Lưu Khải Hồng (Vơ Ṭng), Đặng Thái
Thuyến (Canh Tân). 3) Đại diện kỳ bộ Bắc Kỳ là Dương Hạc Đính (Hạc), Nguyễn Tuân
(Kim Tốn), Ngô Gia Tự (Sĩ Quyết), Trần văn Cung (Quốc Anh). Đại diện kỳ bộ Trung
Kỳ là Vũ Mai (Quốc Hoa), Nguyễn Thiều (Nghĩa), Nguyễn Đ́nh Tư (Nguyễn Văn Cẩm),
Nguyễn Tường Loan (Mạc Chấn Á). Đại diện kỳ bộ Nam Kỳ là Phạm Văn Đồng (Nam),
Nguyễn Văn Đài (Liêm) và Quan.
Trong cuộc họp nầy, đại diện kỳ bộ Bắc Kỳ VNCMTNH đề nghị giải tán VNCMTNH,
thành lập đảng Cộng Sản, nhưng không được các đại biểu khác chấp thuận. V́ vậy,
ba trong bốn người trong phái đoàn Bắc Kỳ là Cung, Tự, Tuân bỏ họp, liền bị tổng
bộ VNCMTNH khai trừ ngày 9-5-1929.
Đông Dương Cộng Sản Đảng: Trở về Việt Nam, Kỳ bộ VNCMTNH Bắc Kỳ liền họp Đại hội
ngày 17-6- 1929 tại Hà Nội, công khai thành lập Đông Dương Cộng Sản Đảng (ĐDCSĐ),
theo đúng đường lối mới của ĐTCSQT. Đông Dương Cộng Sản Đảng đă thu hút hết các
chi bộ Bắc Kỳ của VNCMTNH, phát triển vào tới Đà Nẵng, và gởi đại diện vào Sài
G̣n thuyết phục kỳ bộ Nam Kỳ.
An Nam Cộng Sản Đảng: Kỳ bộ Nam Kỳ của VNCMTNH cũng muốn thống nhất lực lượng
cho đoàn thể được mạnh, nhưng đại diện ĐDCSĐ (Bắc Kỳ) chỉ đồng ư cho các đoàn
viên VNCMTNH Nam Kỳ gia nhập với tư cách cá nhân. Tháng 11-1929, kỳ bộ Nam Kỳ
VNCMTNH liền tự đổi thành An Nam Cộng Sản Đảng (ANCSĐ). Từ đó, nổ ra cuộc tranh
căi giữa hai đảng CS Bắc và Nam Kỳ cùng thoát thân từ VNCMTNH.
Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn: Trong khi đó, tại Trung Kỳ, Tân Việt Cách Mạng
Đảng, hậu thân của Hưng Nam và Phục Việt, càng ngày càng yếu. Những thành phần
ṇng cốt của đảng nầy muốn cộng tác với ĐDCSĐ, nhưng không được, liền quyết định
đứng ra lập một tổ chức riêng lấy tên là Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn (ĐDCSLĐ),
dầu trong cuộc họp tại Hà Tĩnh ngày 1-1-1930, có một số đại biểu đến dự họp bị
bắt trên đường đi.
Như thế, VNCMTNH xem như tan ră và ba tổ chức cộng sản cùng xuất hiện ở Việt
Nam. Trước t́nh h́nh nầy, ngày 27-10-1929, ĐTQTCS cử Nguyễn Ái Quốc qua Trung
Hoa, giải quyết các cuộc tranh chấp, đồng thời đưa ra chỉ thị “về việc thành lập
một đảng cộng sản Đông Dương”, cùng những hướng dẫn cụ thể về nhiều mặt.(1)
Thật ra, ư kiến về việc thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) đă được bàn
thảo trong một cuộc họp của tổ ĐTQTCS ngày 3-3-1927 tại Quảng Châu gồm ba người
là Doriot, Voline và Lư Thụy; theo đó Doriot đuợc giao lo việc viết tuyên ngôn
gởi thanh niên Đông Dương, Lư Thụy lập dự chi gởi xin ĐTQTCS cấp ngân khoản.(2)
Sư tranh chấp giữa các tổ chức cộng sản tại Việt Nam là cơ hội thuận tiện cho
ĐTQTCS tiến hành việc thành lập đảng CSĐD.
Lư Thụy đến Hương Cảng vào đầu năm 1930. Ông tổ chức cuộc họp tại một sân bóng
tṛn (túc cầu) ở Hương Cảng ngày 6-1-1930, để tránh sự theo dơi của nhà cầm
quyền.(3) Ngoài Nguyễn Ái Quốc (đại diện ĐTQTCS), hiện diện trong cuộc họp nầy
c̣n có Trịnh Đ́nh Cửu, Nguyễn Đức Cảnh (đại diện ĐDCSĐ ở Bắc Kỳ), Nguyễn Thiệu (Nghĩa)
và Châu Văn Liêm (đại diện ANCSĐ ở Nam Kỳ); ĐDCSLĐ ở Trung Kỳ không cử đại diện
đến họp. Cuộc họp đi đến quyết định thống nhất ba đảng, kể cả đảng bộ cộng sản
Hoa kiều ở Việt Nam, thành một đảng, có tên là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Trần Phú,
lúc đó vẫn c̣n ở Liên Xô, được chỉ định làm tổng bí thư. Sau đó, ĐDCSLĐ chính
thức gia nhập đảng CSVN ngày 24-2-1930.(4)
Như thế, kể từ ngày 6-1-1930, đảng CSVN chính thức thành lập. Tuy nhiên, sau nầy,
tại Đại hội 3 đảng Lao Động (CSVN) tại Hà Nội từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960, Bộ
chính trị Trung ương đảng yêu cầu Đại hội thông qua quyết định thay đổi ngày
thành lập đảng là 3-2-1930, v́ “các đồng chí Liên Xô cho biết ngày đó mới đúng
theo tài liệu lưu trữ của Liên Xô”.(5)
Trở lại với Trần Phú. Từ Moscow, ông qua Pháp tháng 4-1930, đến Hương Cảng gặp
Lư Thụy, rồi về Hải Pḥng. Lư Thụy được lệnh của ĐTQTCS trở qua Xiêm, tiếp tục
làm nhiệm vụ quốc tế, tổ chức các đảng cộng sản Xiêm La và Mă Lai. Ngày
10-10-1930, theo lệnh của ĐTQTCS, Trần Phú tổ chức Hội nghị kỳ 1 Ban chấp hành
Trung ương đảng CSVN tại Cửu Long (Kowloon) gần Hương Cảng, đổi tên đảng CSVN
thành đảng Cộng sản Đông Dương (CSĐD). Ngày 11-4-1931, ĐTQTCS chính thức thừa
nhận đảng CSĐD, trợ cấp mỗi tháng 5,000 quan Pháp, tức khoảng 1,200 Mỹ kim lúc
đó.(6)
KẾT LUẬN
Trên thế giới, sau phong trào thực dân, đến phong trào ĐTQTCS vào đầu thế kỷ 20.
Phong trào ĐTQTCS thật ra cũng chỉ là một phong trào thực dân mới, dưới sự chỉ
huy của đảng Cộng Sản Nga, rồi đảng CSLX. Hai phong trào thực dân cũ và thực dân
mới khác nhau ở điểm: vào thế kỷ 19, các cường quốc xâm lăng tự ḿnh đi t́m kiếm
thuộc địa; vào thế kỷ 20, ĐTQTCS đào tạo cán bộ địa phương, gởi về bản địa hoạt
động, cướp chính quyền và tự động đưa nước ḿnh trở thành chư hầu của Liên Xô.
Nguyễn Tất Thành chính là người được ĐTQTCS chọn năm 1922, để đem chủ nghĩa cộng
sản về Việt Nam.
Quá tŕnh thành lập đảng CSĐD cho thấy vào năm 1911, khi ra khỏi nước, Nguyễn
Tất Thành không có chủ đích chính trị rơ rệt. Năm 1911, vừa đến Pháp, ông xin
vào học trường Thuộc Địa để ra làm quan cai trị cho Pháp. Đi tàu đến Hoa Kỳ, có
một ít tiền, Nguyễn Tất Thành, nay lấy tên là Paul Thành, gởi thư đề ngày
15-12-1912, nhờ viên khâm sứ Pháp tại Huế chuyển về tặng cho cha (Nguyễn Sinh
Huy) và xin viên khâm sứ Pháp giúp đỡ ông Huy một chỗ làm để sinh sống.(7) Các
hành động nầy chứng tỏ rằng do những khó khăn gia đ́nh, Nguyễn Tất Thành ra đi
để mưu sinh, sẵn sàng thỏa hiệp với Pháp, và không phải ra đi t́m đường cứu nước.
Khi mới ra nước ngoài, sống tự lập một thân một ḿnh, không nơi nương tựa, lăn
lộn trong giới thợ thuyền thuộc nhiều nước trên thế giới, với đủ hạng người
nghèo khổ, đói rách, từ tận đáy xă hội, Nguyễn Tất Thành học được những kinh
nghiệm thực tế, sống động, kể cả những tiểu xảo để mưu sinh, những mánh khóe để
sống c̣n, trong một môi trường xa lạ, khắc nghiệt. Có thể v́ vậy, ông tiếp thu
nhanh chóng học thuyết Mác-xít, chủ trương tranh đấu giai cấp quyết liệt, kêu
gọi “vùng lên hỡi ai cực khở bần hàn…”,(8) với những thủ đoạn quỷ quyệt, tàn ác,
gian trá mà những nhà chính trị lăo thành như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,
Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, vốn là những người xuất thân từ sách vở Nho
giáo, không thể chấp nhận được.
Ở trong nước, Nguyễn Tất Thành không thể tiến thân v́ không có học vị. Ra ngoài
nước, ông phải tay làm hàm nhai, nên cũng không đi học. Hoạt động chính trị
trong xă hội Paris mà không có bằng cấp khoa bảng, không thuộc hạng quư tộc hay
tư sản giàu có, th́ khó có cách tiến thân. V́ vậy, đang ở trong đảng CS Pháp,
ông gia nhập Hội Tam Điểm để kiếm thời cơ tiến thân, nhưng khi được đại diện
ĐTQTCS là D. D. Manuilsky tuyển chọn năm 1922 để đưa sang Nga, Nguyễn Tất Thành,
nay là Nguyễn Ái Quốc liền chấp nhận ngay v́: Thứ nhất, theo Manuilsky về Nga,
ít nhất Nguyễn Tất Thành thoát khỏi cảnh bần hàn mà ông phải trải qua từ khi ra
nước ngoài, và cuộc sống hàng ngày của ông có thể được bảo đảm hơn.(9) Thứ hai,
v́ ít học, ông không thể tiến thân một cách b́nh thường, nên việc giai cấp tranh
đấu, xách động theo kiểu cộng sản là cơ hội hiếm có để ông có thể tiến thân,
thỏa măn mộng làm quan, mà ông đă ấp ủ từ khi ra nước ngoài, nạp đơn vào trường
Thuộc địa Paris. Chấp nhận đi Nga có nghĩa là Nguyễn Tất Thành phải chấp nhận
ngay từ đầu tất cả những điều kiện do đảng CS Nga đưa ra.
So với những nhà hoạt động chính trị lúc đó, Nguyễn Tất Thành là người được huấn
luyện và đào tạo chính quy để trở thành một nhà tổ chức và xách động chuyên
nghiệp, nhất là ông học được phương pháp độc ác, lừa phỉnh, bất kể đạo lư của
những lănh tụ cộng sản, trong việc tranh đấu để giành lấy quyền lực, theo phương
châm “cùng đích biện minh cho phương tiện”. Lúc đó, v́ quá căm thù thực dân Pháp,
người Việt đồng t́nh với phương pháp bạo động theo đường lối cộng sản. Người
Việt lại chưa biết ǵ về Liên Xô, về ĐTQTCS, về chủ nghĩa Mác-xít, nên dễ tin
theo những tuyên truyền của học thuyết mới.
Ngoài ra, là một nhân viên của ĐTQTCS, Nguyễn Tất Thành c̣n được cung cấp phương
tiện để hoạt động, được hướng dẫn để hành động, và được cả khối t́nh báo Liên Xô
yểm trợ, cung cấp tin tức. Nhờ thế, Nguyễn Tất Thành và đảng của ông nắm rơ t́nh
h́nh Việt Nam và thế giới để đưa ra những biện pháp thích ứng với thời cuộc theo
từng giai đoạn.
Điều nầy khác với những nhà chính trị dân tộc, phải vừa tự mưu sinh, vừa hoạt
động chính trị, và chẳng có ai ra tay giúp đỡ khi hoạn nạn hay bị truy lùng. Ví
dụ Phan Bội Châu ở Trung Hoa bị Long Tế Quang lùng bắt năm 1914 th́ không có chỗ
trốn. Ngược lại, năm 1927, khi bị báo động, Lư Thụy liền trốn qua Liên Xô.
Một điểm đáng chú ư là nhờ sự tài trợ của đảng CSLX, Lư Thụy đă mở những khóa
huấn luyện chính trị và chủ nghĩa Mác-xít cho thanh niên, tuyển chọn nhân tài,
gởi đi thụ huấn ở các trường quân sự tại Trung Hoa, hoặc ṭng học tại Viện Thợ
thuyền Đông phương. Nhờ sự đào tạo cán bộ lâu dài, đảng CSVN có một đội ngũ đảng
viên ṇng cốt trung kiên, tuy ít nhưng quyết tâm hành động theo đường lối
Mác-xít của QTCS. Ngoài ra, ngay từ đầu, Lư Thụy đă tích cực sử dụng báo chí để
tuyên truyền rộng răi chủ nghĩa cộng sản. Đi tới đâu, Lư Thụy và cán bộ của ông
cũng phát hành ngay một tờ báo, vừa để thông tin, tuyên truyền, vừa để huấn
luyện cán bộ, và cả đánh lạc hướng theo dơi của nhà cầm quyền Pháp hoặc Anh.
Đó là những lư do chính giúp Nguyễn Tất Thành, tức Nguyễn Ái Quốc hay Lư Thụy
thành công trong việc thành lập đảng CSVN, rồi cải danh thành đảng CSĐD. Đó cũng
là những lư do góp phần vào sự thành công của đảng CSĐD sau nầy.
Cuối cùng, điều đáng thêm là khi đến Liên Xô năm 1923, Nguyễn Tất Thành chứng
kiến tận mắt sự cai trị tàn bạo của chế độ cộng sản, đă đưa đến nạn đói làm chết
5 triệu dân Nga. Ông thấy rơ chế độ CSLX tàn ác không kém, hoặc có thể tàn ác
hơn thực dân Pháp. Ông cũng dư biết chủ nghĩa cộng sản chỉ đem lại sự nghèo đói
cho Liên Xô. Thế mà Nguyễn Tất Thành vẫn quyết tâm học tập để trở thành một cán
bộ ĐTQTCS chuyên nghiệp, du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam, và lừa phỉnh
mọi người về một “thiên đường” xă hội chủ nghĩa.
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, Canada)
CHÚ THÍCH:
1. Nguyễn Minh Cần, Đảng Cộng Sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào
cộng sản quốc tế, Nxb. Tuổi Xanh, không đề nơi xuất bản, 2001, tt. 73, 60.
2. Nguyễn Minh Cần, sđd. tr. 59. Biên bản cuộc họp ngày 3-3-1927 do ông Nguyễn
Minh Cần t́m được trong Kho Lưu trữ của Cộng Sản Quốc tế (RSKHIDNI).
3. Nguyễn Minh Cần, sđd. tt. 73-74. Ngày thành lập nầy dựa vào tài liệu của đảng
CSVN trước năm 1960.
4. Văn kiện đảng toàn tập, tập 2 (1930), (Quyết nghị chấp nhận ĐDCSLĐ gia nhập
đảng CSVN ngày 24-2-1930.) Báo điện tử, http://www.cpv.org.vn, mục Văn kiện đảng
toàn tập, trích ngày 19-7-2006.
5. Nguyễn Minh Cần, sđd. tr. 74.
6. Chính Đạo, sđd. tập 2, tt. 114-115.
7. Bùi Tín, sđd. tt. 95-95. Bùi Tín đăng phần chính lá thư bằng Pháp văn của
Nguyễn Tất Thành kư dưới tên là Paul Thành. Dùng tên Paul Thành có thể để chứng
tỏ cho viên khâm sứ Pháp tại Huế thấy rằng ông đă theo dân “Tây”.
8. Lời Việt trong bài “Quốc tế ca” của đảng CSVN. (http://www.cpv.org.vn Mục:
Đảng kỳ.)
9. Cảnh nghèo đói thê thảm được chính đương sự tả lại trong Trần Dân Tiên, sdđ.
tr. 39. [Trần Dân Tiên chính là Hồ Chí Minh.]