NGÀY QUÂN LỰC
BùiđứcLạc
LTS : bài này đă được tác giả viết lần đầu năm 1987, đăng trên tuần báo Chuông
Việt dưới bút hiệu Chính Nhân, nay được hoàn chỉnh lại, với hy vọng không làm
phiền ḷng người đọc
Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa được chính thức khai sinh vào những ngày tháng cuối
năm 1954, sau ngày 20-7-1954 tức là ngày hiệp định Genève được kư kết giữa Pháp
và Cộng Sản Việt Nam. Cho măi tới ngày 1-12-1954, các cấp chỉ huy Việt Nam lần
lượt nhận lănh quyền chỉ huy các Quân Binh Chủng (chủ quyền) từ tay người Pháp;
Thiếu Tướng Nguyễn văn Vỹ được bổ nhiệm làm Tổng Thanh Tra Quân Đội, thay thế
Thiếu Tướng Alessandri; Thiếu Tướng Lê văn Tỵ được bổ nhiệm làm Tổng Tham Mưu
Trưởng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam thay thế Trung Tướng Nguyễn văn Hinh; Nhưng
măi tới ngày 29 tháng 12 năm 1954 mới có hiệp ước chính thức chấm dứt chế độ
Quốc Gia Liên Kết “ Quadripartisme”(chế độ này được khai sinh từ ngày quân Pháp
theo chân Đồng Minh chiếm lại Đông Dương sau đệ nhị Thế Chiến) và cũng hủy bỏ
hiệp định “Pau” năm 1950. Kể từ lúc đó các cơ sở Hành Chánh, Cảnh Sát, Công An
và các cơ quan Tư Pháp cũng được trao trả lại chủ quyền cho người Việt Nam.
Cũng từ ngày 29-12-1954 Bộ Tham Mưu hỗn hợp Việt Pháp được cải tổ và cải danh
thành Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, vào đầu năm 1956 các Bộ Tư
Lệnh Quân khu được cải danh thành Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn; vào đầu năm 1958 các đơn
vị Sư Đoàn Khinh Chiến, Dă Chiến cũng dần dà được canh tân thành các Sư Đoàn Bộ
Binh; vào cuối năm 1965 các Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Liên Đoàn Nhảy Dù cũng
theo đà canh tân Quân Đội được bàng trướng thành các Sư Đoàn Tổng Trừ Bị; các
Đại Đội Biệt Động Quân được thành lập thành Tiểu Đoàn rồi Liên Đoàn rồi Sư Đoàn
vào năm 1975, các đơn vị Thiết Giáp cấp Chi Đoàn, Thiết Đoàn được canh tân, hiện
đại hoá bằng những thiết giáp tân tiến và tăng trưởng thành các Thiết Đoàn,
Trung Đoàn Thiết Giáp; các Chiến Hạm Hải Quân cũ kỹ do quân đội Pháp để lại được
thay thế bằng những chiến hạm tân tiến hơn, đồng thời ạ ạt nhận thêm chiến hạm
mới các pḥng Hải Quân bên cạnh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn được thành lập thành các Bộ
Tư Lệnh Hải Quân Vùng; các đơn vị Không Quân từ những khu trục cơ cánh quạt được
thay thế bằng những Phản Lực cơ siêu âm rồi các Phi Đoàn, Sư Đoàn Không Quân ra
đời; các binh chủng, nha sở cũng được trang bị hiện đại hơn và tăng cường quân
số cho phù hợp với nhu cầu cuả chiến trường và nhu cầu của các đơn vị không tác
chiến. Chính v́ vậy mà một vị Tướng lănh tên tuổi ngoại Quốc (chúng ta thường có
tinh thần vọng ngoại) đă phải tuyên bố xác nhận rằng : Quân Lực Việt Nam Cộng
Ḥa là một quân lực tinh nhuệ và hùng hậu đứng vào hàng thứ năm trên thế giới.
Cũng từ năm đó, năm 1960 là năm mà Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa bắt đầu chao đảo
theo tham vọng của một số các cấp chỉ huy, Quân Lực đă bị lợi dụng bởi tham vọng
cá nhân, có khi c̣n bị lèo lái theo tướng số, bói toán và tử vi nữa.
Năm 1963 cơn băo loạn chính trị được khơi dậy bằng những cuộc xuống đường của
học sinh, sinh viên, Phật Tử và c̣n một điều quyết định là theo dấu chỉ cuả đèn
xanh Quốc Tế. Trung Tướng Dương văn Minh số đông các Tướng Lănh và một số Sĩ
Quan Trung Cấp đang nắm quyền chỉ huy các đơn vị chung quanh Thủ Đô Sài G̣n đă
lật đổ chính phủ dân cử ngày 1-11-1963; Kết quả là hai anh em Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm đă bị thảm sát trên thiết vận xa M113 ngay trong ḷng Thủ Đô Sài
G̣n-Chợ Lớn.
Ngày 18 tháng 11 năm 1963 Đại Tá Nguyễn Chánh Thi và Trung Tá Vương văn Đông sau
ba năm bôn ba nước ngoài v́ đảo chánh không thành trở về nước.
Ngày 23 tháng 11 năm 1963 Tổng Thống Hoa Kỳ Kennedy bị ám sát tại Dallas tiểu
bang Texas, phó tổng thống L. Johnson lên thay.
Hơn một tháng say mê trên chiến thắng (Cách Mạng) một Hội Đồng Quân Nhân Cách
Mạng được thành lập do Trung Tướng Dương văn Minh làm Chủ Tịch, các ủy viên gồm
các Trung Tướng Trần văn Đôn, Tôn thất Đính, Trần Thiện Khiêm, Phạm xuân Chiểu,
Lê văn Kim, Lê văn Nghiêm, Mai hữu Xuân, Trần văn Minh; các Thiếu Tướng Đỗ Mậu,
Nguyễn văn Thiệu, Nguyễn hữu Có; Đồng thời Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng cũng chỉ
định Đốc Phủ Sứ Nguyễn Ngọc Thơ (Phó Tổng Thống của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm,
người đă đánh lừa Ba Cụt hứa nếu về đầu hàng chính phủ sẽ được khoan hồng nhưng
khi Ba Cụt về đầu hàng lại cho một toán quân phục kích bắt sống Ba Cụt rồi đem
xử tử ) thành lập chính phủ; Nhưng thay v́ mở rộng cho các đảng phái tham gia
tham chính th́ chính phủ cuả Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ lại là một Chính Phủ bè
phái chia rẽ rơ rệt, nhất là sự hiện cuả nhóm sĩ quan Đại Việt như Đại Tá Đỗ
Kiến Nhiễu đổng lư văn pḥng Quốc Trưởng Dương Văn Minh, Đại Tá Nhan Minh Trang
chánh vơ Pḥng Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ, Đại Tá Nguyễn Văn Quang giám đốc nha
An Ninh Quân Đội, Đại Tá Dương Hiếu Nghiă chỉ huy trưởng Thiết Giáp Binh, Đại Tá
Hùynh Văn Tồn tỉnh trưởng Gia Định, nhóm này chủ trương lật đổ chính phủ của Thủ
Tướng Nguyễn Ngọc Thơ và mời lănh tụ Đại Việt là Bác Sĩ Nguyễn Tôn Hoàn đang
sống lưu vong bên Pháp về lập chính phủ.
Nhưng âm mưu của nhóm này chưa kịp thi hành, th́ bị Trung Tướng Trần Thiện Khiêm
tư lệnh Quân Đoàn III phối hợp cùng Trung Tướng Nguyễn Khánh tư lệnh Quân Đoàn
I, Đại Tá Nguyễn Chánh Thi tư lệnh phó Quân Đoàn I dùng ưu thế trong Quân Đội
dập tắt, trong phiên họp ngày 12-12-1963 tại Sài G̣n quyết định ngày 31-1-1964
lật đổ chính phủ cuả Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ, quan trọng hơn nữa là trong
phiên họp này quyết định bắt giam tất cả các Tướng Lănh chủ mưu cuộc đảo chánh
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, và chụp cho nhóm nàyï cái mũ là chủ trương Trung Lập,
(cho đến ngày hôm nay cũng chưa có bằng cớ xác thực), ỡm ờ vẫn giữ Trung Tướng
Dương Văn Minh người cầm đầu cuộc đảo chánh ở lại làm Tổng Thống, Trung Tướng
Nguyễn Khánh làm Thủ Tướng, thành lập hội đồng Nhân Sĩ gồm 60 vị, Hội Đồng Quân
Nhân Cách Mạng đổi tên thành Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng, Trung Tướng Nguyễn
Khánh làm chủ tịch thay thế Trung Tướng Dương văn Minh, rồi đến Tam Đầu Chế (bù
nh́n). Tướng Nguyễn Khánh thao túng sân khấu chính trị làm cho Quân Đội hoang
mang, Dân Chúng hoài nghi, và nh́n tất cả các tuồng diễn trên sân khấu cải lương
chính trị tại Sài G̣n lúc bấy giờ, như một màn bi kịch của thời đại.
Tướng Khánh làm nhiều tṛ rất ngoạn mục như hiến chương Vũng Tầu, Tam Đầu Chế (Nguyễn
Khánh, Dương văn Minh, Phan khắc Sửu) phong cho ông Trần Văn Hương làm Thủ Tướng
và một Thượng Hội Đồng Quốc Gia làm cố vấn (bù nh́n) cho chính phủ, v́ Thượng
Hội Đồng Quốc Gia không chiụ làm bù nh́n cho nên Tướng Nguyễn Khánh bắt giam các
giới chức trong Thượng Hội Đồng này gồm cả nhà cách mạng Nguyễn Văn Lực (thân
phụ cuả phi công Nguyễn văn Cử).
Ngày 7 tháng 6 năm 1964 Công giáo biểu t́nh chống chính phủ rất qui mô tại công
trường Lam Sơn.
Ngày 2 tháng 8 năm 1964 chiến hạm Maddox của Hoa Kỳ tuần tiễu ở vịnh Bắc Việt bị
tầu tuần tiễu Bắc Viết phóng ngư lôi tấn công, ba ngày sau tầu Mỹ lại bị tấn
công, Phi cơ Mỹ trả đũa oanh tạc các tầu chiến và các vị trí quân sư tại ven
biển Bắc Việt.
Ngày 26 tháng 8 năm 1964 ẩu đả giữa hai nhóm nhỏ Phật Giáo và Thiên Chúa giáo
tại khu Thanh Bồ Đà Nẵng làm 11 người chết, 42 người bị thương, một số nhà bị
đốt. Tại Sài G̣n cũng bùng lên t́nh trạng Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo ḱnh
chống nhau, Linh Mục Hồ văn Vui và Thượng Tọa Thích tuệ Đăng phải ra tận nơi
biểu t́nh của hai bên đang đối đầu nhau để ḥa giải mới ổn định được t́nh h́nh,
có tin cho rằng các cuộc chống chọi giữa Thiên Chúa giáo và Phật giáo là do Cộng
Sản giật dây, cả hai bên chỉ v́ thiếu suy xét, chút xíu trở thành đại họa cho
đất nước, bài học này ngày nay vẫn c̣n nóng hổi.
Ngày 8 tháng 9 năm 1964 Tướng Nguyễn Khánh lại thành lập Thượng Hội Đồng Quốc
Gia với nhiệm vụ triệu tập Quốc Dân Đại Hội, soạn thảo Hiến Chương, nhưng sau đó
lại bị giải tán.
Ngày 13 tháng 9 năm 1964 Đảng Đại Việt đảo chánh, do Đại Tá Hùynh văn Tồn Tư
Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh và Trung Tướng Dương văn Đức Tư Lệnh Quân Đoàn IV (bên
ngoài ai cũng tưởng đây là cuộc đảo chánh do Tướng Đức chủ mưu, nhưng không phải
như vậy mà sự thật chủ mưu cuộc Đảo chánh này là do nhóm Sĩ Quan Đại Việt; Tướng
Dương văn Đức thuần túy là một quân nhân, ông cương trực thắng thắn nên dễ bị
lợi dụng ) Tướng Nguyễn văn Thiệu lúc đó đang làm Tham Mưu Trưởng liên quân, tại
Bộ Tổng Tham Mưu không có quân trong tay nên phải cầu cứu với Thiếu Tướng Nguyễn
Chánh Thi tư lệnh Sư Doàn 1 Bộ Binh về Sài G̣n để phản công; Tướng Thi nhờ vào
uy tín và sự quen biết với các vị Tư Lệnh hai Binh Chủng Nhảy Dù và Thủy Quân
Lục Chiến cũng như Quân Chủng Không Quân nên ông đă chỉ huy phản công, dẹp Đảo
chánh thành công rất dễ dàng.
Ngày 1 tháng 11 năm 1964 Ông Trần văn Hương được đề cử làm Thủ Tướng chánh phủ,
nhưng không được bao lâu bị chống đối mạnh mẽ từ khối sinh viên Phật Tử.
Ngày 16 tháng 2 năm 1965 sau hơn ba tháng cầm quyền Thủ Tướng Trần văn Hương từ
chức, rối loạn lại càng rối loạn hơn.
Ngày 19 tháng 2 năm 1965 Thiếu Tướng Lâm Văn Phát và Đại Tá Phạm Ngọc Thảo lại
làm thêm màn bi kịch đảo chánh trên sân khấu Sài G̣n, nhưng cũng lại bị Trung
Tướng Nguyễn Chánh Thi Tư Lệnh Quân Đoàn I phối hợp cùng Thiếu Tướng Nguyễn cao
Kỳ Tư Lệnh Không Quân dẹp tan, nhân dịp này Tướng Nguyễn Chánh Thi với danh
nghiă là Tư Lệnh Quân Đoàn Giải Phóng Thủ Đô đă yêu cầu Quốc Trưởng Phan Khắc
Sửu giải nhiệm Tướng Nguyễn Khánh, chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH được giao
cho Trung Tướng Trần Văn Minh và ép buộc tướng Nguyễn Khánh phải xuất ngoại trị
bệnh. (căn bệnh này là căn bệnh truyền nhiễm)
Ngày 25 tháng 2 năm 1965 Tướng Nguyễn Khánh lên đường lưu vong sau hơn một năm
khuấy động,trước khi bước chân lên máy bay ông cầm một nắm đất và tuyên bố “Tôi
đem theo đất nước Việt Nam với tôi và tôi c̣n trẻ tôi sẽ trở lại đất nước khi có
cơ hội” .
Cũng ngày 25 tháng 2 tnăm 1965 Thủ Tướng Phan Huy Quát thành lập chánh phủ,
Trung Tướng Nguyễn văn Thiệu phó Thủ Tướng nhưng lại bị khối Công Giáo biểu t́nh
chống đối, nên chánh phủ Phan Huy Quát phải giải tán sau gần bốn tháng cầm quyền
đầy rối loạn, đồng thời Quốc Trưởng Phan khắc Sửu cũng nhận thấy ngôi vị của
ḿnh không có thực quyền nên đă cùng Thủ Tướng Quát thỏa thuận là nên trao quyền
hành điều khiển Quốc Gia lại cho Quân Đội, sự thực các chính phủ dân sự không
c̣n lối thoát, họ không do dân bầu mà do sự chỉ định, khi lên hay xuống cũng do
chỉ định mà thôi cho nên họ hoàn toàn bất lực, không có một chút uy quyền nào.
Ngày 8 tháng 3 năm 1965 hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đổ bộ lên Đà
Nẵng, đây là đơn vị đẩu tiên của quân đội Hoa Kỳ chính thức tham chiến tại Việt
Nam.
Tới đầu tháng 6 năm 1965 mọi việc đều rơ ràng, trong t́nh thế rối loạn này, nếu
Quân Đội không nhận lănh tạm thời điều khiển quốc gia, để tổ chức bầu cử chọn
người lănh đạo quốc gia, th́ không một cá nhân hay đảng phái nào có thể đảm nhận
vai tṛ điều khiển Quốc Gia trong giai đoạn nhiễu nhương này được.
Cho nên ngày 6 tháng 6 năm 1965 Hội Đồng Quân Lực đă nhóm họp khẩn cấp, cuộc họp
này hoàn toàn do các Tướng lănh Việt Nam chủ động, và kết quả là vẫn không bầu
được một cơ cấu sẵn sàng nhận lănh trách nhiệm điều khiển Quốc Gia.
Ngày 11 tháng 6 năm 1965 cuộc họp giữa chính phủ dân sự chỉ định và Hội Đồng
Quân Lực từ 9:00 giờ tối cho đến 3:00 giờ sáng ngày 12 tháng 6; Trong buổi họp
này Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu và Thủ Tướng Phan Huy Quát đồng loạt từ chức giao
quyền hành cho Hội Đồng Quân Lực, mọi người đồng ư chờ quân đội chọn người, sau
đó mới chọn ngày bàn giao chính thức, cuộc họp lịch sử này do sự thúc đẩy của
Hoa Kỳ nhưng hoàn toàn không chịu áp lực của Hoa Kỳ, chương tŕnh nghị sự hoàn
toàn độc lập.
Ngày 12 tháng 6 năm 1965 các vị Tướng Lănh và những vị có chức vụ Tư Lệnh Sư
Đoàn trở lên họp từ 9:00 giờ sáng cho đến 9:00 giờ tối tại Bộ Tư Lệnh Binh Chủng
Thủy Quân Lục Chiến dưới sự canh gác vô cùng cẩn mật; Cuộc họp bàn căi rất sôi
nổi về việc chọn một người ra điều khiển Quốc Gia với danh xưng Chủ Tịch Ủy Ban
Hành Pháp Trung Ương, không ai t́nh nguyện, nên các vị sau đây lần lượt được đề
cử :
Trung Tướng Nguyễn văn Thiệu
Trung Tướng Nguyễn hữu Có
Trung Tướng Nguyễn chánh Thi
Thiếu Tướng Nguyễn cao Kỳ
Lúc đầu Trung Tướng Thiệu và Trung Tướng Có từ chối quyết liệt , sau đó Trung
Tướng Thi cũng từ chối cuối cùng Thiếu Tướng Nguyễn cao Kỳ nhận lănh, sau cùng
đi tới kết quả thành phần lănh đạo như sau:
Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu Tham Mưu Trưởng Liên Quân làm Chủ Tịch Ủy Ban Lănh
Đạo Quốc Gia (Quốc Trưởng)
Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ Tư lệnh Không Quân làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung
Ương (Thủ Tướng)
Đồng thời các Tỉnh Trưởng, Quận Trưởng được lần lượt thay thế bằng các quân nhân
(không có kinh nghiệm về hành chánh và cai quản) và lấy tên là Chủ Tịch Ủy Ban
Hành Pháp Tỉnh hay Quận.........
Nhưng để có thời gian chuẩn bị thành lập nội các, cho nên đến ngày 19 tháng 6
năm 1965, Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương mới chính thức tuyên bố nhận lănh trách
nhiệm lèo lái Quốc Gia và tuyên bố thành phần nội các; cùng quyết định tăng phụ
cấp cho binh sĩ; cũng như chọn ngày 19 thang 6 là ngày Quân Lực (Hiện nay tại
hải ngoại các cựu Quân Nhân chúng ta phải giữ ngày này là giềng mối để nắm tay
nhau, công kích ngày Quân Lực là mục đích tiếp tay cho kẻ thù chung của Dân Tộc,
gây chia rẽ trong hàng ngũ Quân Nhân; Cũng như công kích bản Quốc Ca của chúng
ta là mục đích gây chia rẽ trong hàng ngũ Quốc Gia, gây xáo trộn trong cuộc sống
đầy ưu phiền nghi kỵ, cả hai t́nh huống quan trọng này, một bên chống một bên
thuận là cả Cộng Đồng Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản phải tan nát khó hàn gắn, bây giờ
không phải là lúc bàn đến việc thay đổi điên rồ này, nếu chúng ta suy nghĩ chín
chắn th́ chúng ta phải đón nhận như trong gia phả vậy, hay giở cũng là của tiền
nhân để lại, phải chấp nhận đễ làm bài học quư giá sau này, tốt hay xấu th́ cũng
là tấm gương soi để noi theo hay sửa chữa, con cháu chúng ta cần học hỏi trong
cả bài học hay cũng như bài học dở, từ cổ chí kim không có một quốc gia nào, hay
một vị nguyên thủ nào hoàn hảo cả) .
Năm 1965 cũng chính là năm mà Cộng Sản Việt Nam nhận định rằng : Sau gần hai năm
lật đổ Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm các Tướng lănh đă lo tranh giành quyền lực không
chú ư ǵ đến quyền lợi của Quốc Gia Dân Tộc, không c̣n chú ư đến nhiệm vụ chính
là Hành Quân bảo vệ dân, tiễu trừ Cộng Sản nữa. Nắm cơ hội này chúng đă gửi các
Sư Đoàn Chính Quy ào ạt Nam Tiến với mục đích là thôn tính trọn miền Nam; Nh́n
rơ ư đồ đó nên Tổng Thống Hoa Kỳ L. Johnson đă quyết định đổ bộ các đại đơn vị
Hoa Kỳ vào tham chiến kịp thời, nếu không QLVNCH với vũ khí lúc đó c̣n thô sơ (Garant,
carbine và đại liên 30 ) khó có thể ngăn cản sự tấn công cuả đạo quân được trang
bị tối tân hơn ( AK 47, B40, B41 và hoả tiễn điều khiển điạ điạ cũng như điạ
không ). Tuy vậy QLVNCH cũng phản tỉnh sau hai năm mơ màng nên lệnh tổng động
viên được ban hành, Thiếu Tướng Bùi Đ́nh Đạm cấp thời được bổ nhiệm làm Giám Đốc
Nha Động Viên Bộ Quốc Pḥng để thi hành lệnh Tổng Động Viên trước t́nh thế khẩn
trương của đất nước, các Quân Binh Chủng cũng được bành trướng chẳng hạn như Lữ
Đoàn Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến được thành lập thành Sư Đoàn.
Năm 1966 là năm đầu tiên lấy ngày 19-6 là ngày QUÂN LỰC; Một cuộc diễn binh rất
quy mô trên đường Trần Hưng Đạo Thành Phố Sài G̣n Chợ Lớn, dưới đất các đoàn
quân anh hùng lần lượt đi qua khán đài, trên trời các phi cơ đủ loại biểu diễn
ngoạn mục mang lại niềm tin ở sức mạnh cuả Quân Đội cho dân chúng, nhất là sau
một năm t́nh h́nh chính trị và quân sự được ổn định dân chúng lại càng an ḷng
hơn.
Ngày 19-6-1975 không một nơi nào trên trái đất này tổ chức ngày Quân Lực cho
QLVNCH, nhưng chắc chắn nó được âm thầm tưởng nhớ trong trí trong tâm cuả các
quân nhân c̣n đang bàng hoàng trước cơn đại nạn cuả đất nước; để rồi người may
mắn phiêu bạt khắp Năm Châu, người kém may mắn đang trong các lao tù Cộng Sản,
người kiên cường bất Khuất đang hiên ngang chiến đấu trong ḷng đất mẹ Việt Nam.
Nhưng dù ở phương trời nào hoàn cảnh nào các quân nhân QLVNCH lúc nào cũng một
ḷng son sắt quyết tâm sẽ tổ chức ngày Quân Lực rạng rỡ trên quê hương Việt Nam
Mến Yêu.
Trên một phần tư thế kỷ, biết bao nhiêu đau thươmg chồng chất, biết bao nhiêu
khổ aỉ cực h́nh, biết bao nhiêu tan vỡ tận cùng mang theo những chia lià ngăn
cách để lại cho chúng ta những khắc khoải mong chờ ngày quang phục quê hương,
mục tiêu hợp quần những người cựu Quân Nhân QLVNCH chưa nắm trọn trong tay, v́
chúng ta c̣n lấn cấn trong những thủ đoạn ma mănh mưu cầu lợi ích riêng tư cho
một đơn vị hay cho một nhóm, mà chưa nhận điện được những lợi ích chung cho cộng
đồng cho xứ sở!!!!!! kèm theo chúng ta đang bị quân thù cài người đánh phá, v́
vậy khối Quân Nhân phải cực kỳ sáng suốt mới nhận rơ được quân thù, nếu chúng ta
không nắm tay cùng nhau, chúng ta sẽ bị lịch sử lên án nặng nề, về những việc
làm hiện tại của chúng ta, chúng ta thật sự thua trận giặc vừa qua, để lại một
dân tộc vốn kiêu hùng, nhưng trớ trêu thay đang làm nô lệ cho chính những người
cùng huyết tộc, hơn thế nữa tiếp tục ngày hôm nay chúng ta đang thua trận giặc
tàn khốc hơn đó là trận giặc làm tay sai, trận giặc chia rẽ do quân thù điều
khiển, và bị xúi bẩy bởi những người không một ngày cầm súng, hoặc c̣n tệ hại
hơn nữa, chính họ là những người đă chỉ điểm cho quân thù tiêu diệt chúng ta,
chúng ta thật sự đang làm nhơ bộ chinh y của chính chúng ta, đau đớn thay.
Xin Hồn Thiêng Sông Núi xin tinh anh của Gịng Giống Tiên Rồng dẫn dắt con cháu
Lạc Hồng biết tương nhượng nhau, xích lại gần nhau và biết cùng nhau nh́n về quê
hương bên kia bờ đại dương, cùng đau trong niềm đau chung của Dân Tộc.,.
Bùiđúclạc