Các Vua Nhà Nguyễn 1
Vua
Gia Long (1802-1820)

Vua Gia Long, người thành lập Triều đại nhà Nguyễn
Niên hiệu Gia Long
Năm sanh, năm mất 1762-1820
Giai đoạn trị v́ 1802-1820
Miếu hiệu Thế Tổ Cao Hoàng Đế
Tên Húy Nguyễn Phúc Ánh
Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, năm Ất Dậu (1765), Chúa Vũ Nghuyễn Phúc Khoát mất.
Quyền thần Trương Phúc Loan chuyên quyền thay Chúa đổi ngôi, đưa Nguyễn Phúc
Thuần mới 12 tuổi lên ngôi Chúa để dễ bề khống chế. Từ đó Đàng Trong bắt đầu đi
vào con đường suy thoái, sưu cao thuế nặng, khắp nơi đều vang lên tiếng than oán
và cuối cùng dẫn đến việc ba anh em nhà Tây Sơn khởi nghĩa năm Quí Tỵ (1773).
Lợi dụng lúc Đàng Trong có nội loạn, Chúa Trịnh xua quân qua sông Linh Giang tấn
công Phú Xuân (Huế). Phú Xuân thất thủ, tôi chúa họ Nguyễn phải chạy vào Gia
Định, chấm dứt sự nghiệp của Chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
Trong số người chạy loạn có Nguyễn Ánh lúc bấy giờ mới 13 tuổi. Nguyễn Ánh là
con của hoàng tử Nguyễn Phúc Côn và bà Nguyễn Thị Hoàng. Nguyễn Ánh (hay Nguyễn
Phúc Ánh) sinh ngày 15 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (1762), thuở thiếu thời đă tỏ ra
là một con người có chí và thông minh v́ thế rất được Chúa yêu, tuy c̣n nhỏ
nhưng ông được Chúa phong cho chức Chưởng sứ, ông đă tỏ ra là một tướng cầm quân
có tài.
Năm Tân Dậu (1777), Nguyễn Huệ đem quân vào đánh chiếm Gia Định, Chúa tôi họ
Nguyễn phải bỏ thành kéo tàn quân chạy về Định Tường, Cần Thơ. Quân Tây Sơn truy
lùng gắt gao, bắt được và giết Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương, Nguyễn Ánh bắt
đầu một cuộc sống long đong và vất vả.
Vài năm sau, Nguyễn Ánh lấy lại được Sài Côn (Saigon) rồi tiến ra lấy lại B́nh
Thuận. Năm Canh Tí (1780) Nguyễn Ánh lên ngôi Vương ở Gia Định. Năm Nhâm Dần
(1782), thấy thế lực Nguyễn Vương ngày càng mạnh, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ kéo
quân vào đánh, Saigon thất thủ, Nguyễn Vương lại bôn tẩu về Hà Tiên rồi chạy ra
đảo Phú Quốc.
Nguyễn Vương vốn là con người có chí nên ông bất chấp gian khổ, canh cánh trong
ḷng một mối thù phục quốc. Chính v́ thế nên khi biết được Giám mục Pháp Bá Đa
Lộc (Pigneau de Béhaine), người có uy tín và thế lực tại Pháp thời bấy giờ đang
ở Đàng Trong , Nguyễn Vương không ngần ngại cho mời giám mục tới và nhờ giám mục
làm sứ giả trong việc cầu viện Pháp. Nguyễn Vương đă để cho con trưởng của ḿnh
là Nguyễn Phúc Cảnh mới 4 tuổi theo Giám mục Bá Đa Lộc sang Pháp làm con tin.
Trong thơ cho Vua Pháp (Louis XVI), Nguyễn Vương xin Pháp giúp 1.500 lính và tàu
bè, súng ống, vật dụng. Để đền bù, Pháp được độc quyền buôn bán ở nước Việt Nam,
nhường cho nước Pháp đảo Côn Lôn (Côn đảo), và cảng Hội An (có sách nói là cảng
Đà Nẵng).
Giám mục Bá Đa Lộc kư được hiệp ước Versailles với Pháp ngày 28-11-1787, vua
Pháp giao trách nhiệm thi hành hiệp ước cho một ông tướng đống quân ở Ấn Độ
nhưng ông nầy không thích Giám mục Bá Đa Lộc nên nói ra với vua Pháp và cũng v́
nước Pháp đang bị nội loạn nên rốt cuộc vua Pháp không thi hành hiệp ước. Chờ
măi không được, Giám mục Bá Đa Lộc bỏ tiền riêng để mướn một số lính đánh thuê
rồi trở về Việt Nam. Năm 1789 th́ Hoàng tử về đến Gia Định.
Khi đưa con đi rồi Nguyễn Vương cũng từ giă mẹ và vợ để sang Xiêm La (Thái Lan)
cầu cứu. Tới tháng 6 năm 1784 th́ vua Xiêm cho tướng Chiêu Tăng và Chiêu Sương
đem 20 vạn quân và 300 chiếc thuyền sang giúp Nguyễn Vương. Lúc đầu quân Xiêm
đại thắng chiếm nhiều tỉnh Kiên Giang, Trà Ôn, Sa Đéc. Sau đích thân Nguyễn Huệ
đem đại quân vào đánh, quân Xiêm thua bỏ chạy về nước, Nguyễn Vương cũng chạy
theo về Xiêm La lánh nạn.
Tháng 5 năm Bính Ngọ (1786), Nguyễn Huệ theo kế của Nguyễn Hữu Chỉnh tiến chiếm
Phú Xuân rồi rồi thừa thắng tiến ra Thăng Long (Hà Nội) diệt họ Trịnh. Việc
Nguyễn Huệ ra Bắc làm cho Nguyễn Nhạc (anh của Nguyễn Huệ) nghi ngờ nên cũng vội
vă đem quân ra Bắc, hai anh em gặp nhau ở Thăng Long rồi cùng về. Nguyễn Huệ
được đóng quân ở Phú Xuân và được phong là Bắc B́nh Vương. Từ đó anh em Tây Sơn
đă có mầm móng bất hoà, nhiều lần hai anh em đă đem quân đánh nhau.
V́ ham tranh quyền nên anh em Tây Sơn đă không ngó ngàng ǵ đến các xứ Đàng
Trong nhất là từ Qui Nhơn (B́nh Định) trở vào, lợi dụng thời cơ đó, Nguyễn Vương
đă cùng với các bộ tướng củ, tháng 9 năm Đinh Mùi (1787), trở về nước. Nguyễn
Vương đă được dân miền Nam giúp đở rất nhiều, có nhiều tướng giỏi đến pḥ như Vơ
Tánh, nên chẳng mấy chốc lực lượng Nguyễn Vương đă lớn mạnh. Đông Định Vương
Nguyễn Lữ phải bỏ Gia Định trở về Qui Nhơn. Nguyễn Vương lấy toàn bộ xứ Gia Định
đặt làm bản doanh rồi bắt đầu tổ chức việc cai trị. Năm Canh Tuất (1790) Nguyễn
Vương cho đắp lại thành Gia Định theo kiểu bát quái có 8 cửa xây bằng đá ong.
Thấy Nguyễn Vương lớn mạnh, tháng 3 năm Nhâm Dần (1782) vua Thái Đức Nguyễn Nhạc
nhà Tây Sơn đem quân vào đánh nhưng bị quân Nguyễn Vương đánh lui. Kể từ đó về
sau, quân Tây Sơn luôn thất bại khi đem quân vào đánh.
Ở Phú Xuân, Bắc B́nh Vương Nguyễn Huệ lại tiến quân ra Bắc diệt nhà Lê rồi cho
Ngô Văn Sở và Ngô Thời Nhiệm ở lại để cai trị Bắc Hà. Vua Lê Chiêu Thống chạy
sang Trung Quốc cầu viện nhà Thanh. Nhà Thanh sai Tôn Sĩ Nghị đem 20 vạn quân
sang đánh. Được tin, Bắc B́nh Vương Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế ở Phú Xuân lấy
hiệu là Quang Trung thống lănh đại quân tiến ra Bắc đánh tan 20 vạn quân nhà
Thanh, Tôn Sĩ Nghị phải chạy thoát thân bỏ quên cả ấn tín.
Năm Nhâm Tư (1792) vua Quang Trung băng hà, con là Quang Toảng lên ngôi mới 10
tuổi, v́ thế Vương nghiệp triều Tây Sơn nhanh chóng rơi vào suy vong.
Được tin vua Quang Trung băng hà, Nguyễn Vương rất vui mừng, đẩy mạnh việc chuẩn
bị đánh Tây Sơn. Dưới trướng Nguyễn Vương lúc bấy giờ có nhiều quan chức người
nước ngoài như Dayot (Ông Trí), Philippe Vannier (Ông Chấn), Guilloux, Laurent
Barisy (Ông Mân), De Forçant (Ông Lăng), Jean Baptiste Chaigneau, Olivier de
Puymanel (Ông Tín), Theodore Lebuen. Những quan chức nầy là những cố vấn kỹ
thuật cho Nguyễn Vương trong lănh vực quân sự, vũ khí, đấp thành, v.v...
Cuộc chiến kéo dài đến năm Tân Dậu (1801) Nguyễn Vương chiếm lại được Phú Xuân,
và ngày mồng 2 tháng 5 năm Nhăm Tuất (1802) Nguyễn Vương lên ngôi lấy niên hiệu
là Gia Long. Lên ngôi xong vua Gia Long đưa quân tiến ra đất Bắc, quân Tây Sơn
tan ră lần hồi. Đến tháng 6 cùng năm th́ vua Gia Long đă thống nhất được sơn hà,
chấm dứt cuộc chiến tranh kéo dài gần 300 năm.
Ngài ra lệnh quật mả vua Nguyễn Nhạc và vua Nguyễn Huệ lên, đem vứt thây đi c̣n
đầu th́ đem bỏ giam trong ngục tối (có sách viết là đốt thây thành tro rồi đổ
xuống sông, c̣n sọ th́ làm gáo đựng nước tiểu).
Vua sai sứ sang Tàu cầu phong và xin đổi quốc hiệu là Nam-Việt, nhưng v́ đất
Nam-Việt đă có bên Tàu đời nhà Triệu ngày trước nên Thanh triều mới đổi chữ Việt
lên trên, gọi là Việt-Nam để cho khỏi lầm với tên củ.
Ở trong cung, nhà vua không đặt ngôi Hoàng hậu, chỉ có ngôi Hoàng phi và các
cung tần. Sau khi vua mất, th́ con lên ngôi, mới tôn mẹ lên làm Hoàng Thái Hậu.
Bỏ chức Tể tướng, lập ra 6 bộ, đứng đầu mỗi bộ là quan Thượng Thư:
-Bộ Lại : coi việc khảo xét công trạng, thảo những tờ chiếu sắc, v.v...
-Bộ Hộ : coi việc đinh điền thuế má, tiền bạc, v.v...
-Bộ Lễ : coi việc tế tự, tôn phong, cách thức học hành thi cử, v.v...
-Bộ Binh : coi việc binh lính, v.v...
-Bộ H́nh : coi việc pháp luật, v.v...
-Bộ Công : coi việc làm cung điện, dinh thự, v.v...
Ngài lập Văn Miếu ở các trấn thờ đức Khổng Tử. Mở trường lớn ở Kinh đô để dạy
con các quan và các sĩ-tử (sau nầy vua Minh Mạng đổi tên là Quốc Tử Giám). Mở
khoa thi Hương để kén lấy những người có học ra làm quan...
Vua Gia Long không theo đạo Thiên Chúa dù Ngài rất biết ơn Giám mục Bá Đa Lộc và
có nhiều thiện cảm với các giáo sĩ, nhưng Hoàng tử Cảnh đă theo đạo khi ở chung
với Giám mục Bá Đa Lộc. Một lá thư của Cha Lelabousse viết vào tháng 6-1792 cho
biết : "Trong buổi lễ được tổ chức vào khoăng cuối tháng 7-1789, Hoàng tử Cảnh
nhất định không đến lạy trước bàn thờ tổ tiên đă làm cho Nguyễn Vương đau khổ
tủi nhục và tức giận, vứt bỏ phẩm phục, mũ niệm, nói rằng ông là một người cha
bất hạnh".
Nhưng vua vẫn một ḷng kính trọng Giám mục, trong một lá thư của Giám mục viết
cho Hội truyền giáo hải ngoại năm 1795, Giám mục kể rằng trong năm đó có mười
chín ông quan trong triều đ́nh viết sớ đưa lên cho Nguyễn Ánh xin Ngài thận
trọng đừng để Giám mục lo việc giáo huấn Hoàng tử Cảnh. Nguyễn Vương nổi trận
lôi đ́nh, vứt sớ xuống đất và kể những công trạng của Giám mục đối với gia đ́nh
và sự nghiệp của Vương. Nguyễn Ánh hăm dọa là sẽ phạt thẳng tay những người có ư
nghĩ xấu nầy. Xong Vương vào hậu cung kể lại cho vợ nghe và hai người quyết định
là giấu chuyện nầy không cho Giám mục biết.
Ngày 19 tháng 12 năm Canh Th́n (3-2-1820) vua Gia Long băng hà thọ 58 tuổi (theo
Trần Trọng Kim th́ Ngài mất năm 1819).
Hoàng tử Cảnh

Hoàng tử Cảnh (h́nh vẽ bên Pháp bởi họa sĩ Maupérin vào năm 1787)
Hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh sanh ngày 2 tháng 3 năm Canh Tư (6-4-1780) tại Gia
Định, con của Nguyễn Ánh và bà Tống Thị Lan (sau là Thừa Thiên Cao Hoàng hậu).
Năm 4 tuổi, Hoàng tử được gởi theo Giám mục Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện, tới
năm 1789 mới trở về với gia đ́nh. Mùa xuân năm Quí Sửu (1792) Hoàng tử lên 14
tuổi, Nguyễn Vương lập ông làm Đông Cung, phong chức Nguyên Súy Quận công, chọn
các đại thần giúp đở để ông quen chuyện chính trị. Trong các phụ đạo (thầy dạy)
có Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Tùng Châu.
Năm Đinh Tỵ (1797) ông theo Nguyễn Vương đi đánh Qui Nhơn, rồi đáng Quản Nam,
khi quân trở về Thái tử tâu xin cho soạn Hiển trung chư thần liệt truyện để chép
truyện các bậc tôi trung đời trước để khuyến khích mọi người , được Nguyễn Vương
chấp thuận.
Mùa Xuân năm Tân Dậu Thái tử bị bệnh đậu mùa và mất vào ngày 7 tháng 2 năm Tân
Dậu (20-3-1801), thọ 22 tuổi. Ông có hai người con trai. Con trưởng là Nguyễn
Phúc Mỹ Đường (c̣n có tên là Đán), con thứ là Nguyễn Phúc Mỹ Thùy (c̣n có tên là
Kính). Ông Kỳ Ngoại Hầu Cường Để là cháu năm đời của Hoàng tử Cảnh.
Vua Minh Mạng (1820-1840)

Vua Minh Mạng

Ấn của Vua

Lăng của vua Minh Mạng ở Huế

Cổng vào lăng Minh Mạng
Niên hiệu
Minh Mạng
Năm sanh, năm mất 1791-1840
Giai đoạn trị v́ 1820-1840
Miếu hiệu Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế
Tên Húy Nguyễn Phúc Kiểu, Nguyễn Phúc Đảm
Vua Minh Mạng tên là Nguyễn Phúc Đảm, sanh
năm Tân Hợi (1791) tại làng Tân Lộc, tỉnh Gia Định, con thứ tư của vua Gia Long
và bà Thuận Thiên Trần Hoàng hậu. Khi Hoàng tử Cảnh mất th́ Ngài được lập làm
Thái tử, khi vua Gia Long băng hà, theo di chiếu Ngài lên nối ngôi, lúc nầy đă
30 tuổi và đổi niên hiệu là Minh Mạng.
Ngài tiếp tục việc tu sửa lại kinh thành Huế, công tŕnh kiến trúc quan trọng
nhất dưới thời Minh Mạng là cửa Ngọ Môn. Các sách đều khen ông là một nhà vua
văn vơ kiêm toàn (nhưng theo một lá thư của một vị Giám mục người Pháp th́ Vua
không có tài văn chương ǵ cả mà chỉ do các ông quan nịnh bợ Vua hùa theo ca
tụng). Vua Minh Mạng bắt đầu một cuộc cải cách từ nội trị đến ngoại giao.
Về mặt nội trị, nhà vua bỏ hầu hết các dinh, các trấn mà thành lập các tỉnh (31
tỉnh), thành lập Nội các và Cơ mật viện để cùng với vua bàn chuyện nước (tới
thời Bảo Đại mới bị giải tán). Lập Quốc Tử Giám. Bắt đầu mở các khóa thi Hội,
thi Đ́nh để lấy tiến sĩ (tới thời Khải Định mới bị giải tán). Lập Quốc sử quán
để góp nhặt những chuyện làm quốc sử. Phát thưởng cho những ai t́m được sách củ
hay làm ra sách mới v.v...
Các nước láng giềng xa gần đều gởi sứ thần đến thông hiếu và vua cũng cử nhiều
phái đoàn đến các nước đó để ban giao. Năm Mậu Tuất (1838) vua Minh Mạng đổi tên
nước là Đại Nam.
Ngài không thích đạo Thiên Chúa nên không cho người ngoại quốc vào giảng đạo ở
trong nước, Ngài có ra dụ (sắc lệnh) nói rằng : "Đạo phương Tây là tả đạo, làm
mê hoặc ḷng người và hủy hoại phong tục, cho nên phải nghiêm cấm để khiến người
ta phải theo chính đạo". Lúc bấy giờ không phải là một ḿnh vua ghét đạo Thiên
Chúa mà thôi, phần nhiều những quan lại cũng đều một ư cả, cho nên sự cấm đạo
lại càng nghiệt thêm. Nhưng mà dẫu cắm thế nào mặc ḷng, vẫn có người đi giảng
đạo Thiên Chúa, nhà vua lấy điều đó làm trái phép nên ra dụ lần nữa nói rằng ai
bắt được giáo sĩ đem nộp th́ được thưởng. Năm ấy ở Huế có một người giáo sĩ phải
xử giảo, và các nơi cũng rối loạn v́ sự bắt đạo và giết đạo. Việc cấm đạo nầy cứ
dai-đẳng măi đến khi nước Pháp sang bảo hộ mới thôi.
Cũng v́ việc cấm đạo Thiên Chúa cho nên sự buôn bán với người nước ngoài cũng bị
cản trở v́ Triều đ́nh thấy thỉnh thoảng khi có chiếc tàu buôn lại th́ lại có một
vài người giáo sĩ Thiên Chúa giáo trên đó nên càng lạnh nhạt với người nước
ngoài. Vua từ chối không tiếp một tàu ngoại quốc nào cả ngay cả tàu Pháp. Hai
ông quan người Pháp (Chaigneau và Vannier) làm trong triều đ́nh từ thời Gia Long
thấy vua Minh Mạng có vẻ không thích người ngoại quốc nên cũng xin từ chức rồi
đem gia đ́nh trở về Pháp.
Sau nầy vua Pháp có gởi sứ giả sang xin ban giao với Việt Nam nhưng vua Minh
Mạng không tiếp, nước ta coi như bế quan tỏa cảng từ đó.
Vua Minh Mạng mất năm Canh Tí (1840), thọ 50 tuổi, trị v́ được 21 năm
Niên hiệu
Thiệu Trị
Năm sanh, năm mất 1807-1847
Giai đoạn trị v́ 1841-1847
Miếu hiệu Hiến Tổ Chương Hoàng Đế
Tên Húy Nguyễn Phúc Tuyền, Nguyễn Phúc Miên Tông
Vua Minh Mạng băng hà, người con trưởng của vua là Hoàng Tử Nguyễn Phúc Tuyền,
húy là Miên Tông sinh năm Đinh Măo (1807) được di mệnh nối ngôi lấy niên hiệu là
Thiệu Trị. Sách nói vua Thiệu Trị là một người hiền hoà, siêng năng cần mẫn
nhưng không có tính hoạt động như vua cha. Mọi việc đều noi theo cũ không có ǵ
đổi mới.
Ông nổi tiếng là ông vua thi sĩ, có để lại rất nhiều bài thơ, nổi tiếng nhất là
hai bài thơ chữ Hán có tên là Vũ Trung Sơn Thủy (cảnh trong mưa) và Phước Viên
Văn hội lương dạ mạn ngâm (Đêm thơ ở Phước Viên). Cả hai bài không tŕnh bài
theo lối thường mà viết thành năm cái ṿng tṛn đồng tâm, mổi ṿng tṛn có một
số chữ, đếm mỗi bài có 56 chữ, ứng với một bài thơ thất ngôn bát cú, nh́n vào
như một "trận đồ bát quái", vua có chỉ cách đọc và đố là kiếm ra 64 bài thơ
trong đó nhưng tới nay chưa ai kiếm ra được hết.
Dưới thời nầy đất Nam-kỳ có nhiều giặc giă, dân Chân-Lạp nổi loạn và quân Tiêm-La
sang đánh phá, vua phải dùng binh đánh dẹp măi tới năm Thiệu Trị thứ bảy (1847)
mới yên được.
Từ khi vua Thiệu Thị lên ngôi th́ việc cấm đạo Thiên Chúa mới nguôi đi được một
ít, nhưng triều đ́nh vẫn ghét đạo, và những giáo sĩ ngoại quốc vẫn c̣n bị giam ở
Huế. Có người đưa tin ấy cho trung tá nước Pháp tên là Favin Lévêque coi tàu
Héroïne, ông nầy đem tàu vào Đà Nẵng xin cho năm người giáo sĩ được tha. Năm
Thiệu Trị thứ năm (1845) có người Giám mục tên Lefèbvre phải án xử tử. Thiếu
tướng nước Pháp là Cécile biết, sai quân đem tàu Alcmène vào Đà Nẵng lĩnh giám
mục ra.
Năm Ất Tỵ (1847) quan nước Pháp biết rằng ở Huế không c̣n giáo sĩ bị giam nữa,
mới sai đại tá De Lapierre và trung tá Rigault de Genouilly đem hai chiếc chiến
thuyền vào Đà Nẵng, xin bỏ những chỉ dụ cấm đạo và để cho người trong nước được
tự do theo đạo mới. Lúc hai bên c̣n đang thương nghị về việc ấy th́ quan nước
Pháp thấy thuyền của ta đóng gần tàu của Pháp và ở trên bờ lại thấy có quân ta
đấp đồn lũy, mới nghi có sự âm mưu ǵ chăng bèn phát súng bắn đắm cả những
thuyền ấy, rồi nhổ neo kéo buồm ra bể.
Vua Thiệu Trị thấy vậy tức giận vô cùng, lại có dụ (sắc lệnh) ra cấm người ngoại
quốc vào giảng đạo và trị tội những người trong nước đi theo đạo. Vài tháng sau
th́ vua lâm bệnh nặng.
Nguyễn Phúc Hồng Bảo là con trưởng của vua Thiệu Trị (nhưng lại không phải là
con của chánh phi Phạm Thị Hằng mà là con của bà phi Đinh Thị Hạnh). Bảo vốn là
người ham chơi, không chịu học hành, tổi ngày chỉ lo đánh bạc. Vua Thiệu Trị có
la rầy nhiều lần nhưng không được.
Khi vua lâm bệnh nặng, cho đ̣i các quan đại thần vào trối. Trương Đăng Quế, Vơ
Văn Giải, Nguyễn Tri Phương và Lâm Duy Hiệp vào chầu. Ngài phán rằng Hồng Bảo
tuy lớn nhưng ngu độn, ít học, chỉ ham vui chơi, nối nghiệp không đặng, con thứ
hai là Hồng Nhậm, thông minh, ham học giống vua có thể cai trị nước được. Vua
yêu cầu các quan phải thi hành tờ di chiếu của vua để lại. Triều thần khóc, bái
lạy và gọi Hồng Nhậm đến trao ấn và kiếm. Hồng Bảo được tin, tức giận đem thân
binh vào nhưng bị quan Phạm Thế Lịch đem quân cản lại chỉ để cho một ḿnh Hồng
Bảo vào mà thôi. Hồng Bảo vào gặp vua lạy lục, vua quay mặt đi không trả lời,
Phạm Thế Lịch và Vũ Văn Giải đưa Hồng Bảo ra hậu cung và cầm giữ ở đó. Mấy ngày
sau th́ vua băng hà tại điện Càn Thành (1847), làm vua được 7 năm, thọ 40 tuổi (theo
Nguyễn Phúc tộc gia phả).
Vua Tự
Đức (1847-1883)

Vua Tự Đức

Các bà vợ vua Tự Đức sống đến đầu thế kỷ thứ 20
Niên hiệu
Tự Đức
Năm sanh, năm mất 1829 -1883
Giai đoạn trị v́ 1847-1883
Miếu hiệu Dực Tông Anh Hoàng Đế
Tên Húy Nguyễn Phúc Th́, Nguyễn Phúc Hồng Nhậm
Hồng Nhậm lên ngôi lúc 19 tuổi, lấy niên hiệu là Tự Đức, việc lên ngôi của Tự
Đức bị nhiều người nghi ngờ nên cũng có người chống. Hồng Bảo (anh Tự Đức) âm
mưu với một số người để t́m cách giành lại ngai vàng. Việc bại lộ, Hồng Bảo bị
hạ ngục và bị kết án tử h́nh. Tự Đức tha chết cho anh nhưng cho lệnh giam lại,
nhưng không hiểu sao Hồng Bảo thắt cổ chết trong ngục (có sách viết là bị ép
uống thuốc độc). Cái chết của Hồng Bảo trở thành một nghi án. Vua Tự Đức sợ sau
nầy sử không chép đúng sự thật nên tự ḿnh kể lại cuộc đời của ḿnh và cho khắc
vào bia đá lớn để lại cho hậu thế, bia nầy ngày nay vẫn c̣n ở trong lăng Tự Đức.
Người ở trong nước chia ra làm bốn hạng là : sĩ, nông, công, thương. Sĩ : là
hạng người chuyên nghề đi học, thầy thuốc, thầy bói, v.v... những nghề phong lưu
nhàn hạ. Nông : là hạng người chuyên nghề làm ruộng. Công : là hạng người làm
thợ hoặc làm một công nghệ ǵ để lấy lợi (dệt vải, làm mắm muối, v.v...). Thương
: là hạng người làm nghề buôn bán.
Đời vua Tự Đức có rất nhiều loạn lạc (giặc cờ Đen, cờ vàng, cờ Trắng, nội loạn,
pḥ Lê diệt Nguyễn v.v...) và cũng là giai đoạn đầu mà Pháp đánh Việt Nam.
Năm Tự Đức thứ 9, có chiến thuyền "Catinat" vào cửa Đà Nẵng rồi cho người đem
thư lên trách triều đ́nh Việt Nam về việc giết đạo Thiên Chúa. Không được trả
lời, quân Pháp bắn phá các đồn lũy rồi bỏ đi. Có ông Giám mục Pellerin trốn được
lên tàu. Giám mục Pellerin về Pháp thuật lại cho triều đ́nh Pháp cảnh các giáo
sĩ Thiên Chúa giáo bị đàn áp dă man ở Việt Nam, và nói rằng chỉ cần có loạn là
các tín đồ Thiên Chúa giáo sẽ nổi lên đánh giúp, lại có bà Hoàng hậu Pháp
Eugénie rất sùng đạo nên cũng nói giúp ông Pellerin. Pháp Hoàng mới quyết ư sang
đánh nước ta.
Tháng 7 năm Tự Đức thứ 11 (1858), Trung tướng Pháp là Rigault de Genouilly đem
tàu Pháp và tàu Y-pha-nho (Espagne) cả thảy 14 chiếc vào cửa Đà Nẵng bắn phá rồi
hạ thành An hải và thành Tôn hải. Theo dự trù, trung tướng Rigault de Genouilly
tính tiến đánh Huế sau khi hạ Đà Nẵng nhưng chờ hoài mà chẳng thấy tín đồ Thiên
Chúa giáo nổi loạn lại thấy quân ta đổ xuống ngày càng đông, quân Pháp lại không
quen khí hậu nên ngă bệnh cũng nhiều. Trung tướng Rigault de Genouilly gây lộn
với Giám mục Pellerin và viết thư về Pháp kể t́nh h́nh, Giám mục Pellerin giận
bỏ về Mă Lai. Thấy đánh Huế chưa nổi, ông trung tướng Pháp đổi ư, quay qua đánh
Gia Định v́ là nơi dể lấy hơn và là vùng trù phú hơn.
Đầu năm sau trung tướng Rigault de Genouilly dẩn quân Pháp và Y-pha-nho vào cửa
Cần Giờ, đánh thành Gia Định, chỉ trong 2 ngày th́ thành vở. Quan hộ-đốc Vũ Duy
Ninh tự vận. Quân Pháp san phẳng thành tŕ làm b́nh địa. Xong trung tướng Pháp
lại đem quân trở ra Đà Nẵng đánh một trận ở đồn Phúc Ninh, quân ông Nguyễn Tri
Phương thua phải rút về giữ đồn Nại-hiên và đồn Liên-tŕ. Trung tướng Rigault de
Genouilly cũng bệnh nên xin về Pháp nghĩ, thiếu tướng Page sang thay, ông đề
nghị việc giảng hoà, cốt chỉ xin được tự do giảng đạo Thiên Chúa và được buôn
bán với nước ta nhưng triều đ́nh Huế lúc đó chỉ c̣n những ông quan già, chỉ biết
đạo Nho thà chết để giữ nước, không chịu nhục, không phải là người biết mềm mỏng
trong vấn đề ngoại giao nên Vua cũng phải nghe theo.
Đến năm 1862 th́ quân Pháp đă chiếm luôn Biên Hoà và Vĩnh Long. Triều đ́nh mới
chịu phái hai ông Phan Thanh Giản và ông Lâm Duy Tiếp vào Nam giảng hoà với Pháp
ngày 9 tháng 5 năm Nhâm Tuất (1862).
Trong bản hoà ước ấy (12 khoăn) có những khoăn như sau :
-Nước Việt Nam phải để cho giáo sĩ Thiên Chúa Giáo nước Pháp và nước Y-Pha-Nho
được tự do giảng đạo và để dân gian được tự do theo đạo.
-Nước Việt Nam phải nhượng đứt cho nước Pháp tỉnh Biên Hoà, tỉnh Gia Định và
tỉnh Định Tường và phải để cho chiến thuyền của Pháp ra vào tự do ở sông Mékong
(Cửu Long).
Vua Tự Đức bắt buộc phải nhường 3 tỉnh Nam kỳ cho Pháp nhưng trong bụng vẫn muốn
lấy lại v́ là đất khai nghiệp của nhà Nguyễn nên đă phái ông Phan Thanh Giản,
ông Phạm phú Thứ và ông Ngụy Khắc Đản đem phẩm vật sang nước Pháp và nước Y-Pha-Nho
để xin chuộc lại 3 tỉnh miền Nam. Vua Pháp hẹn sẽ suy nghĩ lại rồi trả lời sau,
nhưng ông bộ trưởng hải quân và thuộc địa Pháp Chasseloup-Laubat không chịu trả
đất cho Việt Nam nên nói ra, vua Pháp nghe lời.
Triều đ́nh Huế cũng nghĩ là Pháp sẽ không ngừng ở đó nên sai ông Phan Thanh Giản
vào trấn giữ Miền Nam. Năm Tự Đức thứ 20 (1867), thiếu tướng De la Grandière kéo
quân đánh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Ông Phan Thanh Giản biết thế chống
không nổi nên bảo các quan nộp thành tŕ cho đở đổ máu rồi uống thuốc độc tự vận.
Toàn cảnh đất Nam Kỳ thuộc về Pháp, thuế má, luật lệ điều ǵ cũng do Pháp quyết
định cả. Nước Pháp tạm ngừng cuộc chinh phục tại đây.
Quân Pháp lấy Bắc kỳ lần thứ nhất : 6 năm sau, ở miền Bắc có ông Jean Dupuis (tên
việt là Đồ Phổ Nghĩa) chuyên buôn bán vũ khí, ông ta t́m đường sông để chở hàng
qua Tàu và kiếm ra đường sông Hồng nhưng bị quân triều đ́nh làm khó dể v́ ông ta
không có giấy phép. Jean Dupuis ngạo mạn kiếm chuyện gây gổ với triều đ́nh rồi
sai người phụ tá tên Millot vào Saigon t́m gặp viên Thống đốc Nam kỳ là Thiếu
tướng hải quân Dupré để kể t́nh h́nh và xin trợ giúp. Thiếu tướng Dupré là người
đă đễ ư tới vùng Bắc kỳ từ lâu, ông đă viết thư về Paris xin lấy luôn đất Bắc kỳ
nhưng bên Pháp lúc bấy giờ đang yếu v́ chiến tranh với nước Thổ nên ra lệnh
không được gây sự ở Bắc kỳ. Khi được Millot đến đốc thúc th́ ông Dupré quyết
định hành động, ông viết thư cho Paris nói là xin được tự quyết định, ông không
cần viện trợ, nếu chuyện không thành th́ ông sẽ lănh hết trách nhiệm.
Dupré sai Trung úy hải quân Françis Garnier đem quân ra Hà Nội giả nói là để
giải quyết chuyện xích mích của Jean Dupuis rồi kiếm chuyện để bắn vào thành Hà
Nội sáng hôm rằm năm Quí Dậu (1873). Chỉ một giờ th́ thành vỡ, tướng Nguyễn Tri
Phương bị thương nặng, Pháp bắt tính giải về Saigon nhưng Nguyễn Tri Phương
không cho băng bó và nhịn ăn chết. Thành Hà Nội thất thủ, quân ta không hiểu
chuyện ǵ hết nên cứ thấy quân Pháp là bỏ chạy, chỉ trong 20 ngày mà mất 4 tỉnh.
Lúc bấy giờ có tướng Tàu là Lưu Vĩnh Phúc đầu đảng của "giặc cờ đen" về hàng
triều đ́nh Huế, vua Tự Đức phong cho chức Đề đốc để phụ đánh quân Pháp. Lưu Vĩnh
Phúc đem quân về đánh thành Hà Nội. Françis Garnier đem quân ra nghênh th́ bị
phục kích chết ở cầu Giấy. Paris biết chuyện nên triệu Thiếu tướng Dupré về Pháp
trị tội, Thiếu tướng Dupré t́m cách đở tội nên trở mặt, sai ông Đại úy hải quân
Philastre ra Hà Nội để trả lại thành và 4 tỉnh bị chiếm. Hai bên kư hoà ước năm
Giáp Tuất (1874) trong đó triều đ́nh Huế công nhận cả miền Nam là thuộc về Pháp
và Pháp cũng bồi thường lại cho Việt Nam bằng tàu bè và súng ống.
Quân Pháp lấy Bắc kỳ lần thứ hai : Năm 1881, có hai người Pháp tên là Courtin và
Villeroi được giấy thông hành đi lên Vân Nam (bên Tàu) nhưng khi đi đến Lào-Kay
th́ bị loạn quân cản trở không đi được, viên Thống đốc Le Myre de Vilers bèn gởi
thư về Pháp nói rằng nên chiếm luôn Bắc kỳ để bảo đảm sự lưu thông buôn bán với
Tàu. Lúc đó nước Pháp đă hồi phục lại sinh lực nên cũng có ư bành trướng ở Nam Á.
Năm 1882, Thống đốc một mặt gởi thư cho triều đ́nh ta nói là Vua bất lực, đất
nước loạn ly, Pháp phải trấn an đất Bắc để bảo vệ quyền lợi của dân Pháp, một
mặt gởi Đại tá hải quân Henri Rivière ra Hà Nội, gởi tối hậu thư cho quan Tổng
Đốc Hoàng Diệu bắt phải hàng. Đúng 8 giờ sáng th́ quân Pháp tấn công, 11 giờ
thành đổ, ông Hoàng Diệu treo cổ tự tử.
Viên Khâm sai Pháp ở Huế là Rheinart sang thương thuyết, trong đó đ̣i nước Nam
phải nhận nước Pháp bảo hộ và nhường thành thị Hà Nội cho Pháp. Nhiều người
trong Triều đ́nh nói rằng : "Nước ta trong c̣n Lưu Vĩnh Phúc, ngoài c̣n nước Tàu,
lẽ nào bó tay mà chịu" nên từ chối. Sau đó Triều đ́nh cho người sang cầu cứu với
nước Tàu, Triều đ́nh nhà Thanh được dịp bèn gởi quân qua đóng hết các tỉnh Bắc
Ninh và Sơn Tây. Quân Pháp thấy quân Tàu tràn qua biên giới nên cũng xua quân
đánh luôn. Đại tá Henri Rivière cũng bị quân cờ đen giết tại cầu Giấy.
Đúng lúc nầy th́ vua Tự Đức mất ngày 16 tháng 6 năm Quí-Mùi (1883) trị v́ 36 năm,
thọ 55 tuổi.
Niên hiệu
Dục Đức
Năm sanh, năm mất 1853-1883
Giai đoạn trị v́ 1883
Miếu hiệu Công Tông Huệ Hoàng Đế
Tên Húy Nguyễn Phúc Ưng Chân
Vua Tự Đức v́ lúc nhỏ bị bệnh đậu mùa nên lớn không có con, nên vua có xin 3
người con trai của 2 người em làm con nuôi.
Vua nhường ngôi lại cho con trưởng Ưng Chân, phong 3 ông đại thần Trần Tiễn
Thành, Nguyễn Văn Tuờng và Tôn Thất Thuyết làm phụ chính để giúp tân Vương. Thảm
kịch bắt đầu từ mấy câu di chiếu của Vua Tự Đức viết về đạo đức và trách nhiệm
của Ưng Chân:
"V́ tiên liệu Trẫm đă nuôi sẵn ba con. Ưng Chân lớn tuổi nhất, từ lâu đă đến
tuổi trưởng thành, tuy nhiên mắt hơi có tật, dù xưa nay vẫn dấu kín, sợ sau nầy
không c̣n thấy sáng, tánh lại hiếu dâm, v́ tâm tính rất xấu, không chắc đảm
đương nổi việc lớn. Nhưng đất nước cần có vua lớn tuổi. Trong thời thế khó khăn
nầy không dùng Ưng Chân th́ dùng ai ? ..."
Các quan Phụ chính Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết dâng sớ
lên vua Tự Đức xin bỏ mấy đoạn có liên quang đến tính nết xấu của tự quân và xin
bỏ câu “không chắc đảm đương nổi việc lớn” nhưng vua Tự Đức từ chối. Nhà vua bảo:
-Phải giữ lại câu đó để nhắc người kế vị phải tự răn ḿnh, tu tỉnh.
Ngày 17-7-1883 Dương lịch, vua Tự Đức băng hà tại điện Càn Thành. Theo di chiếu
Hoàng tử Ưng Chân vào chịu tang và coi như là vua kế vị, niên hiệu là Dục Đức.
Ba ngày sau (20-7-1883) là lễ đăng quang của vua Dục Đức tại điện Thái Hoà. Quan
Phụ chính Trần Tiễn Thành đứng ra đọc Di chiếu, tới đoạn nói về tật xấu của vua,
ông hạ giọng đọc rất thấp (có sách nói là không đọc) th́ lúc bấy giờ quan Phụ
chính Nguyễn Văn Tường nhảy ra nắm áo ông và nói lớn :
-Tại sao ông không đọc đoạn tiên đế nói đến những ǵ Ngài nghĩ về Ưng Chân ?
Xong ông Tường cho người khác ra đọc lại di chiếu, đọc vừa xong cái đoạn nói về
thói hư tật xấu của vua Dục Đức th́ ông Tôn Thất Thuyết cắt ngang lời người đọc
và nói :
-Đây là đoạn mà ông Thành đă không chịu đọc, phải xin ngưng buổi lễ để xin ư
kiến của Thái Hậu và đ́nh thần xem thử phải làm ǵ !
Sở dĩ hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết dám làm vậy v́ trước đó hai
ngày họ đă dâng lên Hoàng Thái Hậu Từ Dũ tờ hạch tội buộc cho vua Dục Đức ba tội
lớn :
-Muốn sửa di chiếu
-Có đại tang mà mặc áo màu
-Hư hỏng, ăn chơi.
Được bà Hoàng Thái Hậu Từ Dũ bật đèn xanh, hai ông Phụ chính Nguyễn Văn Tường và
Tôn Thất Thuyết liền truất ngôi của vua Dục Đức và quản thúc ông ngay tại Dục
Đức đường. Nhà học của ông bỗng trở thành nhà tù giam. Ông Dục Đức làm vua chỉ
vỏn vẹn có 3 ngày. Sau đó ông bị chuyển qua giam tại Thái Y Viện và cuối cùng
chết v́ đói và khát tại Ngục Thất Thừa Thiên để lại 8 bà vợ, 11 người con trai
và 8 người con gái. (Vua Dục Đức là cha của vua Thành Thái và là ông nội của Vua
Duy Tân).
Quan Ngự Sử Phan Đ́nh Phùng có lên tiếng can ngăn liền bị bắt giam rồi bị cách
chức đuổi về quê.