Các Vua Nhà Nguyễn 2
Niên
hiệu
Hiệp Hoà
Năm sanh, năm mất 1847-1883
Giai đoạn trị vì 1883
Miếu hiệu .
Tên Húy Nguyễn Phúc Thăng, Nguyễn Phúc Hường Dật
Ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tôn em của vua Tự Ðức là Lạng Quốc Công,
tên là Hường Dật, lên làm vua, đặt niên hiệu là Hiệp Hoà.
Vua Hiệp Hoà thấy hai ông đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết lộng hành
quá bèn tìm cách loại trừ bằng cách thay đổi chức tước của hai ông cho bớt binh
quyền. Hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết biết là vua không tin dùng
mình nên liền âm mưu lập ông Dưỡng Thiện là con nuôi thứ ba của vua Tự Ðức lên
làm vua rồi bắt ép vua Hiệp Hoà uống thuốc độc chết. Vua Hiệp Hoà chỉ làm vua
được hơn 4 tháng.
Ông phụ chính Trần Tiễn Thành ra tiếng phản đối nên bị hai ông Nguyễn Văn Tường
và Tôn Thất Thuyết ra lệnh giết luôn.
Trong lúc đó thì Pháp vẫn tiếp tục chiếm các tỉnh của Việt Nam (cửa Thuận An,
thành Hải Dương, ...), Triều đình Huế thất thế xin hoà. Hoà ước Quí Mùi (1883)
ra đời trong đó nước Nam chịu nước Pháp bảo hộ và phải nhường một số đất cho
Pháp. Triều đình ta có ra lệnh ngừng đánh, phải rút quân về Huế nhưng một mặt
quân đội Tàu không nghe lệnh Triều đình Huế, một mặt còn nhiều người yêu nước và
ỷ lại Tàu nên có nhiều người không chịu rút quân mà vẩn đánh Pháp, do đó chiến
tranh với Pháp vẫn tiếp diển, Triều đình Huế bất lực.
Niên
hiệu
Kiến Phúc
Năm sanh, năm mất 1869-1884
Giai đoạn trị vì 1884
Miếu hiệu Giảng Tông Nghị Hoàng Ðế
Tên Húy Nguyễn Phúc Hạo, Nguyễn Phúc Ưng Ðăng
Ông Dưỡng Thiện, tên là Ưng Ðăng là con nuôi thứ ba của vua Tự Ðức lên ngôi vua
lấy niên hiệu là Kiến Phúc. Vua chỉ có 15 tuổi, mọi việc đều do ông Tường và ông
Thuyết quyết định cả.
Có nhiều ông quan thấy vậy liền trả ấn lại cho triều đình, từ quan rồi đi chiêu
mộ binh mà đánh Tây.
Có sách nói rằng Ưng Ðăng được tin triều đình tới rước mình về làm Vua, Ưng Ðăng
sợ quá chui xuống gầm giường trốn, mọi người phải lôi ra, ông la hét khóc lóc
thảm thiết nhưng vẫn bị đem lên kiệu đưa về cung. Ông viện đủ mọi cách để từ
chối nhưng vẫn bị hai ông Tường và Thuyết ép phải lên ngôi. Vua Kiến Phúc ở ngôi
được có hơn 6 tháng thì phải bệnh mất ngày 6 tháng 4 năm Giáp Thân (1884). Có
sách nói rằng Vua bị ông Tường thuốc chết vì Vua bắt gặp ông Tường đang tư tình
với bà phi Nguyễn Thị Hương, để bịt miệng Vua, lợi dụng lúc Vua đang bệnh ông
Tường bỏ thuốc độc vào thuốc trị bệnh của Vua.
Sau khi ký hiệp ước Quí Mùi với nước ta, quan Toàn quyền Harmand ra Bắc kỳ để
sửa sang sự cai trị, lập ra đội lính tuần cảnh, tục gọi là lính "khố xanh" và
bãi đội lính cờ vàng mà Thiếu tướng Bouet đã mộ được. Quân Pháp tiến chiếm Sơn
Tây, Bắc Ninh, Ðáp cầu, Hưng Hóa, Tuyên Quang, ...
Vì biết nước Tàu quá đông nên Pháp cũng muốn làm hoà, chánh phủ Pháp sai Trung
tá Fournier lên Thiên Tân để nghị hoà với Tổng đốc Tàu Lý Hồng Chương. Hai bên
ký hoà ước Fournier năm Giáp Thân (1884) trong đó Tàu chấp nhận là Pháp bảo hộ
nước Việt Nam.
Nước Pháp có sai ông Công sứ Patenôtre từ Tàu sang Huế để sửa lại tờ hoà ước của
ông Harmand đã ký ngày 23 tháng 7 năm Quí Mùi (1883), rồi đến ngày 13 tháng 5
năm 1884 Dương lịch, ông Patenôtre cùng với ông Nguyễn Văn Tường, ông Phạm Thận
Duật và ông Tôn thất Phan ký tờ hoà ước mới (hoà ước Patenôtre), trong đó Triều
đình Huế chấp nhận sự bảo hộ của Pháp và chia nước ra làm 2 khu vực là Trung kỳ
và Bắc kỳ, trên giấy tờ thì mổi kỳ có một cách cai trị khác nhau (Trung kỳ bảo
trợ chứ không phải bảo hộ) nhưng trên thực tế thì từ từ Pháp bảo hộ tất cả,
Triều đình Huế chỉ là hư vị mà thôi. Pháp bắt Việt Nam phải trả cái ấn của Tàu
phong cho vua Việt Nam nhưng ông Nguyễn Văn Tường thương lượng để đem cái ấn đó
ra mà nấu chảy.
Vua Hàm Nghi (1884-1885)

Di ảnh vua Hàm nghi thờ tại lâu đài De la Nauche (France)

Ðám cưới vua Hàm Nghi ở Algérie (1904)

Ðám cưới vua Hàm Nghi ở Algérie (1904)

Ðám cưới vua Hàm Nghi ở Algérie

Dân chúng chờ đợi xe đám cưới

Ngôi mộ của vua Hàm Nghi ở làng Thonac (France)
Niên
hiệu
Hàm Nghi
Năm sanh, năm mất 1871-1943
Giai đoạn trị vì 1884-1885
Miếu hiệu .
Tên Húy Nguyễn Phúc Minh, Nguyễn Phúc Ưng Lịch
Sau khi vua Kiến Phúc mất rồi, đáng lẽ con nuôi thứ hai của vua Tự Ðức là ông
Chánh Mông lên ngôi mới phải. Nhưng hai ông Tường và ông Thuyết sợ lập vua lớn
tuổi thì các ông ấy mất quyền hành nên chọn ông Ưng Lịch là em ruột ông Chánh
Mông mới 12 tuổi, tôn lên làm vua, đặt niên hiệu là Hàm Nghi.
Viên Khâm sứ Rheinart thấy hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết cứ tự
tiện lập vua không hỏi ý ông trước đúng như đã giao kết nên gởi quân vào Huế bắt
Triều đình phải xin phép. Ông Thuyết và Tường phải làm tờ xin phép bằng chữ Nôm
nhưng viên Khâm sứ không chịu, bắt làm bằng chữ Nho (chữ Tàu), hai ông phải viết
lại, viên Khâm sứ mới chịu và sau đó đi cửa chính vào điện làm lễ phong vương
cho vua Hàm Nghi.
Năm sau (1885), Thống Tướng De Courcy được chánh phủ Pháp cử sang Việt-Nam để
phụ lực vào việc đặt nền bảo hộ ở Việt-Nam. Tướng De Courcy muốn vào yết kiến
vua Hàm Nghi nhưng lại muốn là toàn thể binh lính của ông, 500 người, đi vào cửa
chánh là cửa dành riêng cho đại khách. Triều đình Huế xin để quân lính đi cửa
hai bên, chỉ có các bật tướng lảnh là đi cửa chánh thôi cho đúng với nghi thức
triều đinh, nhưng tướng De Courcy nhất định không chịu.
Ông Nguyễn Văn Tường và ông Tôn Thất Thuyết thấy Pháp khinh mạn Vua mình như thế
đều giận lắm bèn nhất định tấn công trại binh của Pháp ở đồn Mang Cá vào đêm 22
rạng 23 tháng 4 âm lịch, đến sáng thì quân Pháp phản công, quân ta thua chạy.
Ông Nguyễn Văn Tường cho người rước Vua Hàm Nghi (lúc nầy mới 13 tuổi) trực chỉ
tới thành Quảng Trị để lánh nạn nhưng nữa đường thì ông bỏ Vua ra trình diện với
quân Pháp. Tướng De Courcy hẹn cho ông hai tháng phải tìm cách để rước Vua về.
Ông Tường viết sớ ra Quảng Trị xin rước Vua về nhưng ông Thuyết cản thư không
cho Vua biết.
Ông Thuyết ở Quảng Bình làm hịch Cần Vương để kêu gọi dân chúng giúp Vua chống
Pháp, dân chúng nổi dậy rất đông, đâu đâu cũng có kháng chiến nhưng vì rải rác
các nơi nên lực lượng không mạnh (mạnh nhất là phong trào của Ðề Thám). Có
thuyết kể rằng khi ông Tường tới kêu vua bỏ trốn, vua trả lời rằng "ta có đánh
với ai đâu mà phải chạy ?" nhưng quân hộ vệ đã nhào tới ôm vua bỏ lên kiệu và
tuông thành trốn. Khi ông Thuyết ra hịch Cần Vương, kể tội ác của Pháp thì vua
Hàm Nghi mới trả lời rằng : "Bây giờ Trẫm mới hiểu" và từ đó đã trở thành một
lảnh tụ kháng chiến dũng cảm.
Hết hạn hai tháng thì cả gia đình ông Nguyễn Văn Tường bị ông De Courcy đài ra
Côn Ðảo rồi sau đó bị đưa tới đảo Haiti ở Thái Bình Dương. Ðược ít lâu thì ông
Tường mất, xác được đưa về chôn ở quê nhà.
Trong thời gian nầy, quân Tàu lại sung đột với quân Pháp ở Bắc kỳ vì Triều đình
Trung Hoa không chấp nhận cái hoà uớc mà tướng Lý Hồng Chương đã ký, viện cớ là
Triều đình Tàu không hay biết gì về vụ đó (có sách nói là Tàu giận vụ Pháp bắt
hủy cái ấn của Tàu ban cho Việt Nam), cuộc chiến bùng nổ dử dội ở Tuyên Quang,
Lạng Sơn, ... Hải quân Pháp bắn phá Phúc Châu và vây Ðài Loan. Tới năm 1885,
chánh phủ Tàu thấy chiến tranh không lợi nên thuận ký tờ hoà ước Thiên Tân với
Pháp ngày 27 tháng 4 năm Ất Dậu, trong đó Tàu chấp nhận là Việt Nam thuộc Pháp
chứ không thuộc Tàu nữa và bắt đầu vẽ lại một cách chánh thức biên giới Việt-Hoa.
Từ đây trở đi coi như Pháp đã chiếm hết nước ta (xin coi hình ảnh trong trang ""Những
tấm hình của ông Bác sĩ Hocquard").
Vua Ðồng Khánh (1885-1889)

Niên hiệu
Ðồng Khánh
Năm sanh, năm mất 1864-1889
Giai đoạn trị vì 1885-1889
Miếu hiệu Cảnh Tông Thuần Hoàng Ðế
Tên Húy Nguyễn Phúc Biện, Nguyễn Phúc Chánh Mông
Thấy vua Hàm Nghi đã thoát ly triều đình kéo cờ khởi nghĩa chống Pháp, Thống
tướng De Courcy sai ông De Champeaux lên yết kiến bà Từ Dũ là mẹ đẻ của Vua Tự
Ðức để xin lập ông Chánh Mông lên làm Vua. Ngày 6 tháng 8 âm lịch năm Ất Dậu
(1885), con nuôi thứ hai của Vua Tự Ðức, tên là Chánh Mông phải thân hành sang
bên Khâm sứ Pháp làm lễ thụ phong, được tôn làm Vua, lấy niên hiệu là Ðồng Khánh.
Sách Trần Trọng Kim viết "Vua Ðồng Khánh tính tình hiền lành, hay trang sức và
cũng muốn duy tân, ở rất được lòng người Pháp", nói một cách khác thì Vua Ðồng
Khánh không chống Pháp.
Lúc đó Vua Hàm Nghi vẩn còn ở mạn Quảng Bình, Pháp dồn quân đánh mạnh về vùng
nầy, ông Tôn Thất Thuyết thấy thế yếu, không chống nổi quân Pháp nên bỏ vua Hàm
Nghi ở lại đồn Vé thuộc huyện Tuyên Hóa rồi nói rằng sang Tàu xin cầu cứu. Ông
Tôn Thất Thuyết ở lại bên Tàu và chết già ở tỉnh Quảng Ðông, có sách nói rằng vì
nước Tàu mới ký hiệp ước làm hoà với Pháp nên không muốn giúp Việt Nam (sách
Trần Trọng Kim thì nói ông Thuyết lên Lai Châu nương tựa vào họ Ðiêu, đến lúc
nghe tiếng Pháp lên đánh liền bỏ họ Liêu mà trốn sang Tàu).
Vua Ðồng Khánh đích thân ra tận Quảng Bình để dụ Vua Hàm Nghi và các quan tùy
tùng về hàng, hứa là sẽ cho cai trị 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh nhưng
không thành công.
Ðến tháng giêng năm Mậu Tý (1888), Vua Hàm Nghi bị tên hầu cận Trương Quang Ngọc
tham tiền nên cùng một số người tới tấn công trại Vua ban đêm trong lúc ngủ,
giết quân tùy tùng trong đó có Tôn Thất Thiệp (con của Tôn Thất Thuyết), rồi đem
Vua về nộp cho Pháp để lấy thưởng. Lúc nầy vua đã 18 tuổi, từ lúc bị bắt vua Hàm
Nghi không nói năng gì cả chỉ nhất thiết chối rằng mình không phải là vua (có
sách nói là quân Pháp rất bối rối vì không biết có phải là vua Hàm nghi không,
các quan lại trong vùng có đến bái mạng nhưng vua coi như không biết, nhưng khi
thầy học củ của vua là Nguyễn Thuận tới thăm thì vua Hàm Nghi vái chào, từ đó
viên quan Pháp Dabat mới chắc là vua Hàm Nghi). Pháp đày Vua Hàm Nghi sang sứ
Algérie, ở đó Vua lập gia đình với một người Pháp, có 3 con, 2 gái 1 trai, và
mất năm 1944. Hài cốt sau được chuyển về Pháp.
(sau nầy tên Trương Quang Ngọc bị ông Phan Ðình Phùng -đảng Văn Thân trong phong
trào Cần Vương- sai quân vây bắt rồi đem ra chém đầu để trị tội bán Vua)
Ngày 27 tháng chạp năm Mậu Tý (28-1-1889) vua Ðồng Khánh thọ bệnh mà mất, ở ngôi
được 3 năm, thọ 26 tuổi.
Vua Thành Thái (1889-1907)

Từ trái sang phải, 3 hoàng tử: Bửu Lũy, Bửu Trang và Bửu Liêm.
Các em của Vua Thành Thái (1891)

Vua Thành Thái trong triều phục

Hai người vợ của vua Thành Thái

Các anh em của vua Thành Thái và các ông thầy (phụ đạo)

Vua Thành Thái trong lúc còn trên ngôi
Vua Thành Thái trong lúc bị đày bên đảo Réunion

Vua Thành Thái và em tới thăm quan toàn quyền (1900)

Vua Thành Thái và em tới thăm quan toàn quyền (1900)
Cựu hoàng Thành Thái về thăm Huế lần cuối (1953)
Vua Bảo Ðại đến thăm cựu hoàng Thành Thái tại Saigon (1953)
Hoàng hậu Từ Minh, thân mẫu cựu hoàng Thành Thái
Bà Ðoàn Thị Châu, thứ phi của cựu hoàng Thành Thái