BÀI TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA BẠN TRẺ QUÁCH VI Ở LOS ANGELES
VỀ QLVNCH
PHẠM PHONG DINH
Binh chủng Nhảy Dù : Là một trong những lực lượng chính qui của QLVNCH được
thành lập sớm nhất, gắn liền với lịch sử h́nh thành cùa QLVNCH , là binh chủng
anh cả của toàn quân đội. Đơn vị Nhảy Dù Việt Nam được thành lập đầu tiên chính
là Đại Đội 1 Nhảy Dù Đông Dương, vào ngày 1.1.1948, chiến đấu dưới sự điều động
của quân đội Pháp tại Việt Nam. Những Đại Đội Dù khác tiếp theo được thành lập.
Ba năm sau, các Đại Đội Nhảy Dù Việt Nam được nâng lên cấp tiểu đoàn. Các Tiểu
đoàn Dù VN hoạt động như là những đơn vị tổng trừ bị, sẵn sàng ứng chiến và phản
ứng nhanh trong bất kỳ hoàn cảnh nào, có mặt trong thời gian sớm nhất ở bất cứ
mặt trận nào, với nhiệm vụ giải tỏa áp lực địch lên quân bạn, giải quyết cán cân
chiến trường. Ở thời điểm đó, quân đội Pháp hăy c̣n dùng chiến thuật nhảy dù từ
trên không xuống để tràn ngập trận địa và thanh toán nhanh chiến trường.
Sau khi đất nước bị phân đôi từ ngày 20.7.1954, th́ gần như toàn bộ các lực
lượng quân đội Việt Nam đều di chuyển vào Miền Nam. Ngày 1.5.1955, Liên Đoàn
Nhảy Dù được thành lập. Mười năm sau, ngày 1.12.1965, chương sử mới của binh
chủng Nhảy Dù được mở ra với buổi lễ xuất quân hùng hậu của Sư Đoàn Nhảy Dù với
thành phần gồm 3 lữ đoàn bao gồm 9 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh và
các tiểu đoàn yễm trợ tiếp vận. Với chiều dầy kinh nghiệm chiến đấu trên mọi
chiến trường lớn và khốc liệt từ Bắc vào Nam, với những thành tích lừng lẫy,
binh chủng Nhảy Dù vẫn luôn được Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH tin tưởng trong vai tṛ
làm lực lượng Tổng Trừ Bị. Tổng Trừ Bị khác với các sư đoàn bộ binh ở chỗ Nhảy
Dù luôn luôn di động khắp mọi miền đất nước để đáp ứng với đ̣i hỏi khẩn cấp của
những mặt trận mà những đơn vị bộ binh hay Địa Phương Quân không giải quyết được.
Sư đoàn bộ binh chỉ hoạt động trong khu vực quân khu và khu chiến thuật của ḿnh,
rất ít ra khỏi vùng trách nhiệm, ngoại trừ một vài biệt lệ.
Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến : Sau Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến là một lực
lượng kỳ cựu của quân đội VNCH, xuất thân từ các Đại Đội Commandos, Đại Đội Yễm
Trợ Giang Đoàn của hai quân chủng Hải Quân và Lục Quân (Quân chủng là những lực
lượng lớn mà trong đó có thành phần là những lực lượng nhỏ, binh chủng hay sư
đoàn). Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến được chính thức thành lập từ Sắc Lệnh ngày
15.10.1954 do Thủ Tướng Ngô Đ́nh Diệm kư ban hành. Hai điều khoản 1 và 3 của Sắc
Lệnh quy định rơ nhiệm vụ của Thủy Quân Lục Chiến như sau :
Điều khoản 1 : Hiệu lực kể từ ngày 1.10.1954, nay thành lập trong tổ chức
Hải Quân Việt Nam một binh chủng bộ binh đặc trách kiểm soát các thủy tŕnh và
thực hiện những cuộc hành quân thủy bộ dọc theo bờ biển Nam Hải và trong sông
ng̣i, mang tên “Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến “ hay “Bộ Binh Hải Quân”
Điều khoản 3 : Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến sẽ gồm nhiều đơn vị khác
nhau tùy theo nhiệm vụ, đă có sẵn trong quân chủng Hải Quân và Lục Quân, hay sẽ
được thành lập tùy theo kế hoạch phát triễn của Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa.
Ngày 1.1.1955, các Đại Đội Commandos (cũng thuộc quyền điều động của Pháp và vào
Nam sau ngày 20.7.1954) cùng các Đại Đội Yễm Trợ Giang Đoàn được kết hợp nâng
lên thành Tiểu Đoàn 1 TQLC. Sau đó là việc h́nh thành Tiểu Đoàn 2 TQLC. Quân số
tăng trưởng đến cấp liên tiểu đoàn, nên có đề nghị từ cấp chỉ huy TQLC cho nâng
binh chủng lên ngang tầm với Nhảy Dù, trở thành một binh chủng biệt lập với Hải
Quân và được làm lực lượng Tổng Trừ Bị cho Bộ Tổng Tham Mưu. Kế hoạch này măi
đến năm 1965 mới được chấp thuận, Bộ Tư Lệnh TQLC được thành lập để chỉ huy hai
Chiến Đoàn TQLC với 5 tiểu đoàn TQLC và 1 tiểu đoàn pháo binh, tách ra khỏi Hải
Quân và chính thức mang danh xưng dầy kiêu hănh : Tổng Trừ Bị của QLVNCH. Sau
Tết Mậu Thân 1968, với thành tích chiến thắng ở hai mặt trận lớn là Sài G̣n và
Huế của Thủy Quân Lục Chiến, Bộ Tổng Tham Mưu thấy đă đến lúc cho thành lập Sư
Đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Đến năm 1970 th́ Sư Đoàn có 3 Lữ Đoàn với 9 tiểu đoàn
bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh và các tiểu đoàn yễm trợ tiếp vận. T́nh h́nh
chiến trường sau năm 1968 đă trở nên nặng độ, một Sư Đoàn Dù không đủ cáng đáng
được nhiều mặt trận lớn cùng một lúc, Sư Đoàn TQLC nhận vinh dự làm lực lượng
Tổng Trừ Bị QLVNCH, hănh diện sánh vai và chia sẻ gánh nặng chiến trường với Sư
Đoàn Nhảy Dù, nhưng vẫn giữ nhiệm vụ khởi đầu từ năm 1954 là hành quân thủy bộ,
kiểm soát vùng biển và sông ng̣i Miền Nam.
Binh chủng Biệt Động Quân : Là một lực lượng đàn em của hai binh chủng Dù và
TQLC, ra đời ngày 1.7.1960 để đáp ứng với h́nh thái chiến tranh du kích của Việt
cộng ở Miền Nam bắt đầu dậy lên từ năm 1959 với những hành động tàn bạo của
chúng như ám sát, bắt cóc, khủng bố, đấp mô, gài ḿn trên đường, phá cầu cống,
ngăn trở giao thông,... Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ đă giúp huấn luyện binh chủng
Biệt Động Quân. Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm của nền Đệ Nhất Cộng Ḥa đă chỉ thị
Nhảy Dù, các sư đoàn bộ binh tuyển những chiến sĩ t́nh nguyện sang chiến đấu
dưới màu cờ của binh chủng Biệt Động Quân. Nên sau này các bạn trẻ thấy nhiều vị
chỉ huy BĐQ và sĩ quan có người mang trên ngực áo những cánh dù trắng. Dần dần,
có 65 đại đội BĐQ được thành lập. Năm 1961, một dự án được Tổng Thống Diệm phê
chuẩn để nâng tổng số lên thành 81 đại đội BĐQ. Biệt Động Quân có nghĩa là một
lực lượng quân đội có những công tác hoạt động đặc biệt và hành quân biệt lập.
Những đại đội BĐQ được huấn luyện chiến thuật phản du kích, chống sự xâm nhập
của thổ phỉ Việt cộng vào những vùng kiểm soát của Quân Đội VNCH, t́m và tiêu
diệt địch ngay trong những an toàn khu của chúng.
Tổng Thống Diệm đă đích thân chọn lựa những đại đội ưu tú nhất của các sư đoàn
bộ binh để cải chuyển sang thành các đại đội BĐQ. Như vậy, Biệt Động Quân giải
quyết những chiến trường nhỏ, đương đầu với những toán Việt cộng, thường thường
là cấp đại đội, chủ động t́m và đánh vào chỗ trú ẩn của chúng trước, chứ không
chờ đợi mặt trận nổ lớn rồi mới đến, hay mở những cuộc hành quân lùng địch cấp
tiểu đoàn, lữ đoàn hoặc chiến đoàn như Dù và TQLC.
Năm 1963, binh đội cộng sản Bắc Việt bắt đầu vào Miền Nam mở những trận đánh lớn
cấp tiểu đoàn. Để thích ứng với với t́nh h́nh khẩn trương đó, cấp đại đội không
c̣n đủ hỏa lực đối đầu với cấp tiểu đoàn địch, các đại đội BĐQ được kết hợp
thành tiểu đoàn. Khi địch mở những trận địa chiến cấp trung đoàn, các tiểu đoàn
BĐQ lại được kết hợp thành những liên đoàn, mỗi liên đoàn có 3 tiểu đoàn bộ binh.
Đó là thời điểm sau năm 1966, song song với sự phát triễn lớn mạnh của toàn
QLVNCH, BĐQ cũng được nâng lên cấp Liên Đoàn, với năm Liên Đoàn 1, 2, 3, 4 và 5
BĐQ. Mỗi liên đoàn được làm thành phần trừ bị của mỗi Vùng Chiến Thuật mang con
số tương ứng, riêng Liên Đoàn 5 trực thuộc Vùng III Chiến Thuật. Như vậy từ thời
điểm 1966, lực lượng Mũ Nâu BĐQ đă chia gánh nặng chiến tranh với hai binh chủng
đàn anh trong vai tṛ trừ bị Vùng, sau này là trừ bị quân khu (từ cuối tháng
10.1970, Vùng được đổi tên là Quân Khu). Đến cuối năm 1970, Lực Lượng Đặc Biệt
được giải thể, nhiều binh sĩ và sĩ quan chuyển sang BĐQ. Đồng thời lực lượng Dân
Sự Chiến Đấu Thượng (CDIG) và Biệt Kích Thượng Mike Force cũng được sáp nhập vào
BĐQ, nâng tổng số tiểu đoàn lên đến 54. Đầu năm 1973, Bộ Tổng Tham Mưu soạn thảo
một kế hoạch tái tổ chức binh chủng BĐQ, kếp hợp 54 tiểu đoàn thành 15 Liên Đoàn
BĐQ, làm thành phần trừ bị chiến thuật cho ba Quân Khu I, II và III, bởi Sư Đoàn
Dù và TQLC đă được Quân Khu I cầm giữ vô thời hạn, QLVNCH cần đến BĐQ như là một
lực lượng thay thế, ít nhất là cơ động phản ứng, tăng viện và tiếp cứu nhanh
trong mỗi quân khu.
T́nh h́nh càng đ̣i hỏi, quân số Tổng Trừ Bị thiếu hụt, nên Bộ Tổng Tham Mưu đă
nâng các Liên Đoàn 4, 6 và 7 BĐQ lên thành Tổng Trừ Bị. Năm 1975, có kế hoạch tổ
chức đến 4 sư đoàn BĐQ phân phối cho bốn quân khu, nhưng chỉ có Sư Đoàn 101 BĐQ
được h́nh thành trong tháng 4.1975 tại Sài G̣n.
Biệt Cách Nhảy Dù (Mỹ gọi là Airborne Ranger) có nghĩa là hành quân biệt lập và
cách biệt với mọi binh chủng bạn, bởi nhiệm vụ quá đặc biệt và bí mật của binh
chủng này. Nhiệm vụ chính yếu là nhảy toán (mỗi toán thông thường là 6 người),
thâm nhập vào các mật khu, hậu cứ địch để lấy tin tức, quấy rối, phá hoại căn cứ
địch, bắt cóc tù binh, cung cấp tọa độ đánh bom cho Không Quân, khám phá những
kho vũ khí, thực phẫm của địch. Khi t́nh thế cho phép th́ các chiến sĩ BCD cũng
tổ chức đánh địch ngay trong ḷng địch. Nói chung, Liên Đoàn 81 BCD được h́nh
thành không phải để nhận nhiệm vụ đánh trận địa chiến. Các chiến sĩ BCD được ví
von như là những chiếc “chén kiểu” quí giá vô cùng, v́ các anh được huấn luyện
cho những công tác thật đặc biệt. Sở trường của BCD là đánh đêm. Tuy nhiên, khi
t́nh h́nh nguy ngập như trong Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè Đỏ Lừa 1972, Phước Long
1974, Bộ Tổng Tham Mưu đă sử dụng Liên Đoàn 81 BCD như là một lực lượng Tổng Trừ
Bị tăng viện, tiếp cứu và thanh toán chiến trường. Sau chiến thắng Mùa Hè 1972 ở
An Lộc và Quảng Trị, Liên Đoàn 81 BCD được vinh dự làm lực lượng Tổng Trừ Bị
sánh vai với các binh chủng tinh hoa bậc nhất của QLVNCH. Cán binh Hà Nội học
thuộc ḷng câu kinh nhật tụng sau đây : “Có ba thứ trong Nam là tử thần, đừng
gặp là hơn : Nhảy Dù – Biệt Cách Dù và Bom B 52”.
Xin trả lời câu hỏi : Biệt Kích Mỹ và Lực Lượng Đặc Biệt (Special Forces) là một
hay khác nhau. Câu trả lời là hoàn toàn khác nhau.
Năm 1970, LLĐB Mỹ rút về nước, bàn giao CDIG và Mike Force cho QLVNCH, từ đó
quân số hai lực lượng này nằm trong quân số của QLVNCH, do chính quyền VNCH quản
trị và trả lương. Bộ Tổng Tham Mưu đổi tên hai lực lượng này thành Biệt Động
Quân Biên Pḥng cấp tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn trấn đóng một trại biên pḥng dọc
theo biên giới Việt – Miên – Lào khắp bốn Vùng Chiến Thuật. Cuối năm 1973, Bộ
Tổng Tham Mưu quyết định băi bỏ các trại biên pḥng, cho sáp nhập BĐQ Biên Pḥng
vào hợp chung với Biệt Động Quân b́nh thường, và đều nằm chung dưới quyền chỉ
huy của Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân. Có tất cả 54 tiểu đoàn BĐQ vừa biên pḥng vừa
b́nh thường được gom lại thành 45 tiểu đoàn, từ đó thành lập 15 liên đoàn BĐQ
phân phối trên ba Quân Khu I, II và III (Quân Khu IV với các sư đoàn bộ binh và
lực lượng Địa Phương Quân – Nghĩa Quân lớn mạnh, đủ sức đánh dẹp quân cộng, nên
không cần các binh chủng Tổng Trừ Bị và BĐQ nữa).
3./ Biệt Cách Dù và Nhảy Dù đều dùng dù th́ có liên hệ mật thiết về kỹ thuật
hành quân và tác chiến không ? Câu trả lời là Không, bởi lẽ nhiệm vụ chiến thuật,
chiến lược của hai binh chủng hoàn toàn khác nhau.
Nhân ngày Quân Lực 19.6 năm nay, kỷ niệm 41 năm ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa
đứng ra gánh vác trách nhiệm lèo lái, bảovệ Tổ Quốc và Dân Tộc, chúng ta, những
người c̣n sống dù là lính hay là dân, là thế hệ thuộc chiến tranh hay thế hệ trẻ
Việt Nam trong thời b́nh, xin chân thành cúi đầu tưởng nhớ đến anh linh của 250
ngàn chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa đă anh dũng hy sinh trên khắp nẽo chiến
trường trong ṛng ră hai mươi năm, ngậm ngùi tiếc thương các anh và chia sẻ niềm
đau cùng với hàng triệu quả phụ cô nhi, chân thành tri ân 500 ngàn chiến sĩ
QLVNCH chiến thương vẫn c̣n sống khoắc khoải, đói khổ cùng cực ở quê nhà. Những
người lính đă chết, các anh thương binh bên kia bờ Thái B́nh Dương và những
người lính chúng ta c̣n sống, tất cả đều tự hào đă từng mặc chiếc áo lính màu
xanh ô liu, hoa Dù, áo rằn Cọp Biển, Biệt Cách Dù, áo hoa rừng Biệt Động Quân,
áo trắng Hải Quân, áo xanh Không Quân, kiêu hănh được chiến đấu dưới Lá Cờ Vàng
Ba Sọc Đỏ Đại Nghĩa Việt Nam và dưới bóng Lá Quân Kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Dù có một lần QLVNCH bị các thế lực thù và “bạn” bức tử, nhưng tất cả NHỮNG
NGƯỜI LÍNH QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG H̉A vẫn luôn ngẫng cao đầu đi vào lịch sử
chống xâm lăng từ phương Bắc v́ đă bền bỉ đổ máu xương bảo vệ TỔ QUỐC, làm tṛn
TRÁCH NHIỆM của người trai thời chiến. Những người lính ấy luôn nêu cao DANH DỰ
của một quân đội mà luôn là cơn ác mộng triền miên của cộng sản và binh đội Bắc
Việt. Chúng chỉ thắng được chúng ta, những Người Lính QLVNCH khi chúng ta đă bị
buộc phải buông súng. Nếu cây súng c̣n trên tay, viên đạn cuối cùng vẫn c̣n nằm
trong ṇng súng, th́ bọn tiểu nhân Hà Nội chưa chắc đă dám ngỗ ngáo đắc chí đến
tận ngày nay.
Sau ba mươi mốt năm, chúng ta, Những Người Lính QLVNCH đă không c̣n súng, ấy vậy
mà cộng sản Hà Nội vẫn cứ ăn không ngon, ngủ không yên. Bởi lẽ, Người Lính
QLVNCH là khắc tinh, là cơn ác mộng hăi hùng của chúng đến vô tận vô cùng.