
NGƯỜI KHU TRỤC VIỆT NAM
Vân Đ́nh.
“We, the Willing, were doing the Impossible, for the Ungrateful, for so Long,
with so Little…that now we Can-Do Anything with Nothing.”
Cũng một mùa hè; năm mươi năm trước, chàng-tuổi-trẻ nằm trên đồi thông sứ
Hoàng-triều-cương-thổ, mơ-màng!…Chàng mơ-màng… trên bầu trời xanh kia, đang
vần-vũ hàng đàn phi-cơ khu-trục điều-khiển bởi những Hiệp-Sĩ-Phi-Công-Thần-Tượng
của chàng, với bao chiến-công; và bao hành-động kiêu-hùng của một “thời c̣n có
Hiệp-sĩ-Không-Gian”…mà chàng vừa đọc trong cuốn sách bên cạnh chàng. ( thời-gian
đó;không-gian đó;những Người-khu-trục-VN sau này như Hoàng Điệu,như Phan H Tính,
cũng đang chia sẽ những mộng-mơ trên.).
Chàng đă bị “đầu-độc” bởi các sách-truyện nói về phi-công khu-truc của thế chiến
thứ hai. Những chuyện do Pierre Clostermann kể (Phi-công Khu-Truc Pháp với 16
chiến công), ám ảnh cậu teenager ngày đêm. Nào là một Walter Nowotny;mới 16 tuổi
đă khai gian tuổi để vào KQ Đức; năm 19 tuổi đă hạ trên 150 phi-cơ Nga; và làm
không-đ̣an trương chỉ huy 3 phi-đ̣an khu-trục…nhưng anh chưa thỏa-măn v́ theo
anh nghĩ phi-cơ Nga dở qúa, cũ qúa (ngành hàng không Nga lúc này c̣n yếu, phải
mua máy Roll-Royce cũ của Anh, hoặc dùng phi-cơ cũ Mỹ cho), phi-công Nga cũng ít
kinh nghiệm và dở đối với anh. Anh cũng nghe nói bên chiến-trừơng miền Tây,trên
bầu-trời có nhiều Hảo-hán xứng đáng là địch thủ của anh,và anh xin đổi về miền
Tây để có cơ-hội so tài với những aces khu-trục thứ thiệt….Đến đây, nói tới Ace
khu-trục,phải mở ngoặc để trở về với VNCH những năm đầu 1970; có “nhà văn
quân-đội” P. Huấn có lần viết về KQVN (đang lúc sung măn) đă “vui tánh quá độ”
mà bơm một vài phi-công VN lên hàng ACE , khiến người đọc phải rợn-tóc-gáy v́
ngượng!!!ACE (trong giơi khu-trục thế giới) được định nghiă là : HẠ ĐƯỢC NĂM
PHI-CƠ ĐỊCH trên trời; trong lúc không chiến..KQVN có phi-cơ khu-trục và có phi-công
khu-trục nhưng nhiệm vụ là YỂM-TRỢ quân bạn do đó không có không-chiến và không
thể có ACES được!.! Nhờ anh P.H. một tư!!!
Trở lại ;Walter Nowotny;chỉ một thời gian sau khi bay trên bầu trời miền Tây,
anh đă lại sơn trên 60 lá cờ Anh& Mỹ bên hông chiếc phi-cơ khu-trục (Me110 hoặc
FW109) của anh,mỗi lá cờ là một phi-cơ anh hạ. Đă có lúc, Pierre C. kể: Walter
N.dẫn một đàn khu-trục ra trận,và chiếc đầu đàn,do anh lái, sơn một mầu vàng-khè
như để thách-đố phi-công đồng minh hăy đến mà so tài với anh…Rồi tới phần cuối
của cuỗc chiến ,khi KQ Đức có phản-lực Me262 th́ Walter N. cũng lái ;và các phi-công
Đồng- minh lắc đầu chĩu thua ,không cách nào hạ nổi Walter.N.. Me262 văn minh
quá! Bay nhanh và cao qúa!cho dù P51 Mustang hay P38 Lightning của Mỹ,hay
Typhoon của Anh; cũng chi nh́n thấy bóng một Me262 bay thóang qua rồi mất hút!…Măi
sau ,phi-đoàn của Pierre C.,phi-đ̣an C̣-Trắng,Croix de la Lorraine,phải dùng
chiến thụât Chasse-au-rat “không mấy đẹp,không hiệp-sĩ-tính” (chữ của tác gỉa
P.C.) để hạ Me262 : Đồng Minh được biết Me262 chỉ có đủ nhiên-liệu để bay đúng 1
giờ.;biết nơi cất cánh và giờ cất-cánh các phi-công đồng- minh bay Typhoon tới
gần phi-trường và chờ Me262 về đáp ,tới cận tiến gears-flap ḷng- tḥng,là quân
ta nhào vô ăn-có…Walter Nowotny bị HẠ trong trường hợp này.Ngày đám tang W.N.
phi-cơ đồng- minh đă bay ngang đám-tang và thả một ṿng hoa lauriers,vừa có
nghĩa là hoa tang vừa có nghĩa là ṿng hoa chiến-thắng cho người hùng!.
Rồi tới chuyện người hùng khu-truc Anh,Bader-Bader với hai cẳng sắt. Anh bị tai
nạn phi-cơ lúc c̣n trẻ và phải cưa hai cẳng;rồi chiến-tranh bùng nổ; KQ Anh cần
nhiều phi-công khu-trục, anh nhất định trở lại nghề cũ, phần anh mê bay, phần
anh muốn chia sẻ gánh nặng với bạn bè cũ. Nhờ một số bạn cũ ,giờ đây đă thành
ông-lớn anh đă được trở lại không-gian và chiến đấu…Anh cũng trở thành một ACE
của KQ Anh, và KQ Đức cũng biết đền một ACE Anh bay với 2 cẳng sắt, đáng nể!!…Anh
bị hạ trong một trận không-chiến,và người phi-công Đức hạ anh,khi vong lại để
nh́n ngươi phi-công đang tọng –teeng dưới cái dù…đă gọi máy về báo-cáo “thằng
phi-công địch tao mới hạ, đă nhẩy dù sống sót nhưng cụt hai chân!!”Các phi-công
Đức biết ngay là Bader ;ra tận nơi đón anh về bệnh-xá của họ,và tối hôm đó ,họ
đă mang champagnes đến tận giường anh để ân mừng và tṛ-truyện giữa những con
người HIỆP-SĨ-KHÔNG-GIAN, người chiến-sĩ của thế- kỷ 20; chiến đấu với tinh-thần
thượng vơ của hiệp-sĩ thế-kỷ, lăng-mạn, 19.
Nói tới tinh thần hiệp-sĩ-đạo…Mặt trận Thái-b́nh-Dương đă tới đọan cuối,tại một
ḥn đảo hẻo lánh, ông tướng tư-lệnh căn-cứ nọ; Washami, đêm hôm đó mời ông đại
tá tư-lệnh không đ̣an; Shiroto, tới lều tư-lệnh uống sake.Cả hai ông mặc trang
phục đại lễ của samurai đầy đủ kiếm dài, kiếm ngắn,,cả hai cấp chỉ huy đều biết
chiến tranh đă chấm dứt và Nhật đă đầu-hàng.Cả hai cùng nhận trách-nhiệm là đă
gửi đi gần hết đàn em của ḿnh đi làm những phi-vụ Kamikase-không-trở-về…cho nên
đêm nay họ sẽ từ-gĩa nhau qua vài ly sake,trao tặng nhau bảo-kiếm Samurai,rồi
sáng sớm mỗi người sẽ leo lên một chiếc Jinrai-Baka (bomb bay) đeo dứơi bụng 2
chiếc Betty,ra gần tới hạm đôị Mỹ, Betty sẽ thả Jinrai và họ sẽ chọn một tầu
Mỹ,Flat-top th́ càng tốt,bay thẳng tới và đâm đầu vào…như các đàn em của họ đă
làm…C̣n cái Chết nào ĐẸP va HÙNG hơn cái Chết của Người Hiệp Sĩ Không-Gian!!!
Đầu-óc đầy một mớ mộng-mơ,chàng-tuổi-trẻ,rời đồi thông , đi vào thành phố tới
nhà một ngừơi anh họ, để đổi sách. Căn-nhà này là một hội-quán-hàng-không nhỏ,
anh chủ nhà là “một con mọt về máy bay”,anh có đủ thứ sách vở về máy bay,nhưng
tài nhất là anh lám máy bay bằng gỗ :anh gọt ,anh mài,anh sơn những chiếc máy
bay nhỏ bằng bàn tay với đủ chi tiết ly-ty; không thua ǵ những chiếc
plastic-model sau này. Ở đây cũng có mặt một Người khu-trục-VN.tương lai :anh
Dzũng Mặt-Đỏ.
Thế rồi chiến-tranh Đông-dương đọan hai bắt đầu;từ súng Ngựa-trời đổi qua
AK47,rồi 12ly7,chàng tuổi-trẻ ra nhập gia đ́nh NgườI- khu-truc- V.N.
Khu-truc V.N. bắt đầu, là Phi-Đoàn 1 khu-trục, bay F8F Bearcat, đóng tại
Biên-ḥa. Mỹ làm ra chiếc Bearcat, cho Hải-Quân , để thay thế chiếc Hellcat, vào
khoảng cuối thế-chiến 2. Bearcat là phi-cơ khu-trục thuần túy (không-chiến), một
cái máy tổ-bố kéo theo một cái thân và cánh tương đối ngăn để “bay-cao và bay-nhanh”.
Khi Bearcat tới tay Nguoi Khu-truc V.N. th́ cũng đă nhăo-nhuẹt rồi; (từ tay ông
Mỹ qua tay ông Tây); nên Phi-Đ̣an 1, mỗi ngày khả dụng hành quân giỏi lắm dưới
10 chiếc; và phi-công bay trung- b́nh 10giờ tới 20 giờ (kể cả giờ T6).Lúc này
chàng-tuổi-trẻ đang học trung-hoc-đệ-nhất-cấp,xuống Biên-ḥa ở 3 tháng nghỉ hè,
bám sát đít các anh Người-khu-trục V.N.:sáng đi ăn sáng, tối cũng leo 4x4 ra phố
ăn cơm, trong ngày lang thang trong phi-đ̣an nh́n ra sân đậu,hàng dài F8F; mới
hôm trước sơn đen,nay lại cạo trắng màu bạc,,,phảng phất mùi “săng-máy-bay”,,,say-sưa
ngày nọ qua ngày kia không chán!: Làm sao quên được những buổi chiều hết nắng,
không gian yên tĩnh chỉ có một chiếc Bearcat (hoặc 1 chiếc T6) đang nhào lộn làm
acrobaties trên tít trới cao. Hoặc một lần khác trên ṿm trời Vũng-Tàu, Saigon ,
thấy chiếc Constellation chở Ngô-tổng-thống, được escorted bởi Bearcat của KQVN,
mỗi bên cánh 3 chiếc, hợp-đ̣an thiệt đẹp…Được gập những người Khu-truc VN.
đầu-tiên mà đâu có biết là số đông sau này đă trở thành những nhân-vật lịch-sử
của VNCH; hay những “người-xây-dựng-lên-KQVN.” Nhớ nhất là các anh thuộc “khóa
13 người”. Hồi đó các anh c̣n mặc áo bay bằng kaki vàng nội-hóa cũng
áo-liền-quần và nhiều túi , giầy bốt th́ mỗi người một kiểu ,cánh bay th́ có
người đeo macaron của Tây hoặc “con chim cụt đầu”của Ta; nói một cách khác quân
trang không đồng-nhất, nhưng sao vẫn thấy nét Hùng và Bất-Cần của người-khu-trục
(so với “ tóc-tai chải-chuốt, áo quần bảnh bao” của những người khác)
tứ-độ-tường có đủ! CHASSE-BORDEL.!!!
Thời điểm này cũng phải nhắc tới một loại phi-cơ và phi-công,cũng thả bomb,bắn
súng nhưng không gọi là khu-trục v́ không phải “một người một ngựa,một động cơ”;
đó là phi-cơ Marcel Dassault 315 ; khi đánh B́nh-xuyên cũng thả napalm (từng
hàng thùng sắt 40 lít,chở trong thân tầu , được đẩy qua cửa) và đại-liên ở cánh.
Thế hệ thứ hai của Người-khu-trục V.N. là phi-công AD6 đựơc Hải-quân Mỹ
huấn-luyện tại Biên-ḥa (ngoại trừ một số nhỏ được huấn-luyện bên Mỹ,thời điểm
58/59),và Phi-Đ̣an1 trở thành phi-đ̣an 514; rồi thêm 516,518,520 và Biệt-Đ̣an
83…Thời-gian sau,1966,có thể gọi là thời V.N. Hóa; phi-công khu-trục đựoc huấn
luyện trên A1E tại Mỹ do 1st Air-Commando đảm-nhiệm( TT Kennedy chế ra Special
Force ,cho Lục-quân, c̣n Không-quân là Air-Commando; gọi là counter-insurgency
để “chơi” chiến-tranh du-kích.)…Lúc này,” đánh nhau thứ thiệt”: số phi-công
khu-trục chết, phần nhiều là tại pḥng-không và trên chiến-trường,chứ không phải
như trước: “lỗi pilot” hay tại phi-cơ cũ ,hay trở- ngại- kỹ-thuật...Phi-cơ
AD5/AD6 (Hải-quân Hoa-Kỳ) hay A1E (2 chỗ ngồi),A1H (1 chỗ ngồi ) (Không Quân
H.K.),là một phi-cơ một- máy-cánh-qụat của Hải-Quân Hoa-Kỳ đựơc sử-dụng nhiều
nhất trong chiến-tranh Triều tiên,không phải là phi-cơ khu-trục thuần túy (không-chiến)
do đó tên gọi có chữ A là Attack.Tuy- nhiên trong KQVN vẫn gọi là khu-trục v́
tính cách “một người, một ngựa, một động-cơ”; và nhiệm-vụ chính của Khu-Trục VN.
là yểm-trợ quân bạn, nên Skyraider là đúng chỉ số. Riêng đối với người viết bài
này, khi mới thấy Skyraider bay trên ṿm trời VN.th́... CHÊ!!!: vừa sấu, vừa
chậm,(quen nh́n Bearcat rồi); đến khi cưỡi Skyraider đi đánh giặc rồi th́... MÊ!!.
Chưa có phi-cơ một máy nào, mà bị bắn bể 3 cylinders, dầu bắn ra xối-xả, sơn đen
cả tầu, mà vẫn bay được thêm 20 phút để về căn-cứ an-toàn, Đạn pḥng không 12ly7
chỉ găm-dính chung quanh pḥng-lái, không thể xuyên-qua, đụng tới da-thịt người
phi-công, v́ những miếng ammo-plates dầy cả 1cm.; cockpit Plexiglas cũng cả
inch…như ngồi trong xe tăng.
Gia-đ́nh Khu-trục V.N. có thêm một phi-đ̣an Phản-Lực siêu thanh đầu tiên, Phi-Đ̣an
522, với phi-cơ F5. Thủa đầu; khi hăng Northrop c̣n đang trong thời kỳ test&
experimental, và đang đăng-báo quảng cáo chiếc N156F Freedom-fighter tương lai
sẽ bán cho đệ-tam-quốc-gia (trong chương-tŕnh MAP), Sách-vở học sinh của chàng
từ b́a trước đến b́a sau là toàn h́nh vẽ N156F. Nhưng mê th́ mê vậy thôi chứ
chàng có bao giờ muờng tuởng tới ngày ḿnh có thể đựơc lái F5. Rồi KQ Mỹ mua một
lọat version 2 chỗ ngồi để làm phi-cơ huấn luyện Talon T-38. Phi-đoàn F5A đầu
tiên xuất hiện tại chiến trừơng V.N. 1965; sau một năm họat động ở miền
Nam,thi-hânh các phi-vụ thả bombs yểm trợ, phi-công về Mỹ, để lại phi-cơ cho
KQVN. Vào những năm chót của cuộc chiến VNCH., có đựơc 3 phi-đ̣an F5E
KHÔNG-CHIẾN. Phi-cơ F5E lúc đầu c̣n đựơc gọi là F5/21,đựơc làm ra để “chọi” với
Mig-21. Nhưng phi-công VNCH, chưa đựơc đối-đầu với những “siêu-nhân”
Bắc-việt;chuyên-viên chiến-thuật “ chốn trong mây chờ,phi-cơ địch tới nhẩy ra vồ”...nên
KQVNCH. không có ACE!! KQVN cũng có RF5,để thi hành các phi-vụ Không-ảnh.
Sau Tết Mậu-Thân;và cũng là thời Việt-Nam-hóa, Skyraider đă thật sự “G̀A” rồi!
phi-công nhận những “cảnh-cáo không nên” : dùng cà-nông 20,đeo bombs tối đa,hay
gấp cánh lúc ở parking...Rồi từng phi-đ̣an A-37B, bắt đầu xuất hiện, lần-lựơt
thay thế A-1...Phi-cơ A-37, cũng là sản-phẩm của counter-insurgency,và là
“hoá-thân” của chiếc Cessna T-37: 2 máy phản-lực mới và mạnh (F5), cánh đựơc
tăng-cừơng cứng gấp bội để đeo xăng và bomb.Có những người KQ.
“đặt-tên-không-mấy đẹp” (nghề của chàng) cho A-37, như là “Slow-jet”,hay là “Ṇng-Nọc-bay”,
hay ǵ-ǵ đi nữa...A-37 LÀ MỘT PHI-CƠ TỐT cho chiến-trường VN. Phi-cơ dễ bay,dễ
baỏ-tŕ,nhỏ-bé trên cao-độ (khó bắn),là một platform vững khi dive-bomb (nhờ hệ
thống yaw-dumper) nên bomb thả rất chính xác. Từ khi có A-37, số phi-xuất mỗi
ngày gấp bội, pḥng-không địch cũng gấp bội (SA-7, 23ly, 37ly, v.v. mang từ Bắc
vào khi Mỹ rút lui.), tỷ-số phi-cơ bị hạ ít hơn trứơc. Trong một phi-vụ, trên
ṿm trời Quảng-Đức,số 2 bị SA7 hạ, số 1 đă bay cover thời-gian lâu hơn sách-vở
cho phép…phi-công đă tắt một máy…A-37 có thể bay với 1 máy, và performance cũng
gần như 2 máy.
Đó là nói về Phi-cơ Khu-trục VN.
C̣n Phi-công K.T.VN.; Người-Khu-trục VN...?!?
Người-KT VN.: sống VUI, THÍCH BAY, bất-cần, sống ngày hôm-nay thôi,
c̣n-chơi-hết-thôi...Với chút vốn, triết lư đó NKTVN mới có thể làm cái việc họ
làm ngày này qua ngày kia; năm này qua năm kia!!
Nếu không phải là MÊ BAY..., như anh mê tennis, vá ngày không ra sân, cảm thấy
NHỚ, ngứa ngắy chân tay; thậm-chí có lúc đựơc đi phép vài ngày , một tuần, lúc
lái phi-cơ về phi-đ̣an thấy hăng-say và vui-sứơng...th́ không ở trong ngành lâu
đựơc v́ cuộc-chiến và cuộc-sống hàng ngày, đ̣i hỏi NKTVN một sự HY-SINH QÚA LỚN,
và QÚA CHÊNH-LỆCH.
ĐỌI cũng là đặc-tính của NKTVN. Không có NKT nào sống-đủng-đỉnh chứ đừng noí
dư-giả; thậm chí có anh cả năm không thấy thẻ-lương!!(di chuyển từ tay bà
thựơng-sĩ naỳ qua tay ông trung-sĩ kia); đành chờ Du-Học để
“recover-from-dive”... Đúng không bạn ta !?! Họ thuộc thành-phần
“tôi-hănh-diện-tôi-nghèo,chứng-tỏ tôi-không-tham-nhũng...”
Ngay cả phần thửơng tinh-thần của ngừơi chiến sĩ : HUY-CHƯƠNG. Từ quyết-định của
Tư-lệnh chiến-trừơng đến hồ-sơ cá-nhân NKTVN., qua một trịêu bàn-tay, chữ-kư, và
rồi phần-thửơng bị “thất-lạc” là chuyện thừơng!.
Nhưng rồi cũng có những giây phút nhớ đời.Anh L19,c̣n nghi-ngờ tài năng thả bomb
của Khu-trục VN. nên bắn trái khoí cách mục tiêu cả 100 thứơc;rồi bảo sô 1:’hit
my smoke” để thử tài...Số 1 nhào-xuống,bấm-nút,kéo-lên crosswind, ngoaí cổ laị
coi bomb nổ và GÁY :”where’s your smoke?”...một cụm khói đen (bomb) đă bao-trùm
cụm khói trắng.... ông bạn đồng-minh hét lên trên tần-số : “beautiful! excellent
bomb! never- seen-before!!”;rối những qủa bomb kế tiếp cũng vậy: excellent bomb
để chứng tỏ không phải là RÙA hay LUCK. Trong lúc lấy BDA, ông bạn đồng-minh c̣n
hỏi; ông học nghệ-thuật thả bomb ở đâu mà kinh-khủng (awsome) vậy??..lại GÁY: số
bomb tao thả trong đời tao bằng số thuốc lá mày hút trong đời mày!!!and that’s
the secret!.
Trận Thác-Lác; thả napalm cách quân bạn (có paneau đỏ che đầu) 20/30 thứơc; sau
mỗi pass lại thâư quân bạn tiến chiếm mục tiêu, đếm xác địch... đến chiều về
căn-cứ quân bạn cho xem paneau c̣n dính bột napalm trắng.
Nhiều lắm! những tiếng GÁY trên tần-số (GÁY với L19, phe ta :”Nếu quân bạn đánh
cận chiến;tao có thể thả bom safe;giết địch ,phe ta an-toàn!”...).Những tiếng
GÁY đó đă thúc đẩy NKTVN sách dù-nón thi-hành phi-vụ kế tiếp.
Lần nọ ; một nữ phóng viên ngừơi Ḥa-Lan, tới căn-cứ để viết một bài về phi-công
VN. Cô có một thân-h́nh khổng-lồ, to khỏe, đứng bên cạnh phi-công VN; có anh bạn
gọi là “thằn-lằn đeo cột nhà”;;thế mà “lửa để gần dơm”, đêm cô ngủ lại
cư-xá-độc-thân.
Sáng hôm sau cô tuyên bố: “Các anh (những ngừơi phi-công) thật là QUỐC-TẾ
(inter-national); cô đă từng BIẾT phi-công Hoà-Lan, Đức, Anh, Pháp,...các anh
giống nhau, có một lối sống BẤT-CẦN (BLASÉ), kHÔNG-CÓ-G̀-QUAN-TRỌNG-CẢ, nó
quyến-rũ phái-nữ lạ-lùng, nhất là nữ nào có tư máu mạo-hiểm,thích đùa với lửa.
Các cụ nghĩ sao?!... “ Tất cả chỉ như gío thoảng, như mây nổi, như chiêm bao.”
Năm 73; trong một cuộc phỏng vấn truyền-h́nh giữa các em-gái-hậu-phương và
chiến-sĩ xuất-sắc KQ. (CÁM-ƠN anh Dũng Đ.T.K.T./BTL.); có em hỏi:” Khi anh t́nh
nguyện vào KQ., động lực nào đă thúc anh chọn VÀO nghề khu-trục : vào-sinh-ra-tử,
lại nghèo-đói; và bao-giờ anh RA đựơc khỏi nghề ???”...”Từ thủa nhỏ tôi MÊ, và
bị ám-ảnh bởi h́nh ảnh một-ngừơi-một-ngựa; bay ngả-nghiêng, vi-vút trên tuốt
trời xanh; rồi sau này laị tin-tửơng “sống-chết-có-số”, nên tôi vẫn bay khu-trục....”
Bá này viết nhân ngày đại-hội “40 năm Khu-Trục VN.” do các bạn Khu-Trục vùng
Thung-lũng-vàng tổ-chức tại San-Jose 5/2005; hy-vọng chia-sẻ t́nh-cảm và kỷ-niệm
cùng các Phi-Tiêu, giờ đây đă trên sáu-bó, nhớ lại một thời đă cùng nhau đi “Bứt
sao trời, cho nhức-nhối không-gian”