Tướng Westmoreland Và Cuộc
Hành Quân Cam Bốt 1970
Vương Hồng Anh
LTS: Tiếp theo loạt bài Tưởng niệm 30-4, xin giới thiệu
đến bạn đọc những tài liệu đặc biệt liên quan đến các sự kiện quân sự, chính trị
giưă VNCH và Hoa Kỳ, đă được Bộ Quốc pḥng và Bộ Ngoại Hoa Kỳ giải mật và chuyển
giao cho Văn Khố Quốc gia Hoa Kỳ.
* Lược tŕnh về cuộc hành quân tại Cam Bốt năm 1970 của Liên quân VNCH-Hoa Kỳ
Vào cuối tháng 4/1970, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3/QL.VNCH và Bộ Chỉ huy lực lượng
Hoa Kỳ tại Vùng 3 chiến thuật đă phối hợp tổ chức hai cuộc hành quân ngoại biên
nhằm triệt hạ các căn cứ địa của CSBV trên phần đất Cam Bốt. Cuộc hành quân thứ
1 khai diễn vào ngày 29 tháng 4/1970 mang tên Toàn Thắng 42 với thành phần tham
chiến ban đầu gồm có: Sư đoàn 18 Bộ binh, Lữ đoàn 3 Thiết kỵ, Liên đoàn 3 Biệt
động quân, lực lượng Pháo binh, Công binh thuộc Quân đoàn 3... Hai ngày sau, vào
6 giờ sáng 1/5/1970, cuộc hành quân thứ hai mang tên Toàn Thắng 43 khởi động với
lực lượng chính là lữ đoàn 3 Nhảy Dù VNCH và các binh đoàn Hoa Kỳ sau đây: Lữ
đoàn 3/Sư đoàn 1 Không kỵ, Lữ đoàn 2 Thiết kỵ, thiết đoàn 2/34; tiểu đoàn 2/47
Bộ binh cơ giới (hành quân Toàn thắng 43).
Sau hai tháng liên tục truy kích CQ, đến cuối tháng 6/1970, lực lượng đặc nhiệm
Hoa Kỳ trở về Vùng 3 chiến thuật, riêng lực lượng VNCH, các đơn vị đă luân phiên
tham dự chiến dịch quy mô và dài hạn này.
*Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ Westmoreland và kế
hoạch hành quân tại Cam Bốt
Lúc cuộc hành quân diễn ra, vị tham mưu trưởng của Lục quân Hoa Kỳ là Đại tướng
Westmoreland (vừa từ trần ngày 18/7/2005, thọ 91 tuổi), nguyên Tư lệnh Lực lượng
Hoa Kỳ tại VN từ 1964-1968. Là một thành viên trong Bộ tham mưu Liên quân Hoa Kỳ
(Hải, Lục, Không quân), Đại tướng Westmoreland đă tham dự nhiều cuộc họp mật về
kế hoạch tấn công CSBV trên đất Cam Bốt, một số sự kiện đặc biệt về kế hoạch này
được Đại tướng Westmoreland ghi lại trong cuốn hồi kư của ông. Sau đây là những
ghi nhận của Đại tướng Westmoreland về quyết định của Tổng thống Nixon về cuộc
hành quân nói trên. Phần này được tổng hợp dựa theo bản dịch của dịch giả Duy
Nguyên đối chiếu với tài liệu của Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa Kỳ.
* Tổng thống Nixon và kế hoạch hành quân truy kích CSBV trên đất Căm Bốt:
Sau khi hoàng thân Sihanook bị lật đổ vào tháng 3/1970, chính phủ Lon Nol lên
nắm quyền tại Căm Bốt th́ chính ông Henry Kissinger (cố vấn của Tổng thống
Nixon) đă khởi xướng cuộc hành quân vào Căm Bốt để tấn công các căn cứ quân CSBV
đặt trên lănh thổ nước này. Vài ngày sau, tức ngày 1 tháng 5, Tổng thống Nixon
thảo luận với bộ trưởng Quốc pḥng Melvin Laird và các thành viên trong bộ Tham
mưu Liên quân tại trung tâm Hành quân Ngũ Giác Đài. Tổng thống Nixon cả quyết
nói đi nói lại nhiều lần: "Quét sạch sành sanh các căn cứ địa. Các anh phải cho
công chúng biết quyết định này, những quyết định táo bạo làm nên lịch sử", rồi
ông kể: như quyết định của Tổng thống Roosevelt đánh chiếm khu đồi San Juan, tuy
nhỏ nhưng thật ư nghĩa khiến công chúng không ai ngờ nổi."
Tổng thống át hết mọi người nhưng dường như có vẻ vội vàng và kết luận quá chóng vánh. Khi Tổng thống chuẩn bị bước đi, tôi (Đại tướng Westmoreland) chận ngang. Sự hứng chí không kiềm hăm và kỳ vọng quá lớn của Tổng thống về những kết quả mỹ măn cũng cần phải điều chỉnh sao cho phù hợp với thực tế có thực hiện nổi hay không chứ. Tôi muốn báo cho Tổng thống biết là chỉ c̣n một tháng nữa là đến mùa mưa. Lúc ấy sự đi lại của các phương tiện cơ giới như xe vận tải, chiến xa, phi cơ đều gặp nhiều trở ngại vô cùng khiến chúng tôi không thể nào quét sạch tất cả các căn cứ đó được. V́ không nghe nói đến thời gian quy định cho sự tham gia của quân đội Hoa Kỳ trong cuộc hành quân nên sau khi nghe lời tuyên bố này của Tổng thống, hàng loạt các cuộc biểu t́nh của sinh viên, báo chí cũng làm rùm beng, kể cả các thành viên trong Quốc hội cũng lên tiếng la ó.
Bất chấp các giới hạn đă buộc từ trước, cuộc hành quân
sang đất Cam Bốt cũng đă đạt được một số thành quả. Một phần các căn cứ địch bị
phá hủy, nhưng điều chính yếu là các đơn vị tham gia cuộc hành quân đă không t́m
ra bộ phận đầu nảo của Trung ương Cục Miền Nam của CSVN, đó là mục tiêu hàng đầu
của chiến dịch tảo thanh mà chẳng may Tổng thống Nixon lại tiết lộ trước cho báo
chí biết. Địch quân th́ bỏ chạy trước nhưng vẫn để lại hơn 10 ngàn xác, vô số
quân trang quân dụng bị phá hủy và số lương thực cho khoảng 25 ngàn quân ăn
trong một năm đă bị tịch thu. Bây giờ muốn CS không thể trở lại lập căn cứ được
là quân đội VNCH phải ở lại đóng quân lâu dài tại đó, và việc này phải mất một
thời gian mới hoàn thành được. Nhờ vậy các cuộc tấn công của địch quanh vùng Sài
G̣n và các tỉnh đồng bằng Cửu Long sút giảm trông thấy. Thêm vào đó ông Lon Nol
ra lệnh đóng cửa hải cảng Sihanoukville làm cho tàu bè địch không c̣n đường tiếp
tế nữa.
C̣n một cách ngăn chận không cho địch xâm nhập vào lănh thổ Căm Bốt nữa là ném
bom. Đầu năm 1969, Tổng thống được quyền sử dụng B 52 nên ông cho tấn công trong
vùng dân cư thưa thớt và được hoàng thân Sihanook chấp thuận với điều kiện là
các cuộc ném bom này phải được giữ kín. Nay người thay thế Sihanook là Lon Nol,
một nhân vật chống Cộng tích cực, việc tấn công này càng được ũng hộ mạnh mẽ hơn.
Chủ trương giữ bí mật các cuộc ném bom trong lănh thổ
Căm Bốt của Tổng thống được chuẩn bị trong hai hồ sơ: một hồ sơ ghi những mục
tiêu này là những mục tiêu nằm trong lănh thổ Việt Nam, một hồ sơ khác ghi tên
mục tiêu khác bị tấn công. Năm 1973 công luận phẫn nộ v́ có tin do các quân nhân
Không quân tiết lộ các mục tiêu này. Không nghi ngờ ǵ nữa, có cả sự mặc cả giữa
các giới chức cao cấp rồi. Tuy nhiên v́ các mục tiêu này thuần túy quân sự, và
được chính phủ Căm Bốt chấp thuận, nên dù lần thứ hai bị công luận chống đối,
vẫn được tiếp tục như thường. Sỡ dĩ có sự phản đối như vậy theo tôi có lẽ do ṭa
Bạch Ốc hay bộ trưởng Quốc pḥng thông báo cho Quốc hội biết.
Hải cảng Sihanouk cấm không cho tiếp liệu của địch chở vào cùng với các đợt ném
bom vào các căn cứ và việc hải quân Việt-Mỹ tăng cường tuần tiễu mặt biển khiến
cho Bắc Việt phải trông cậy vào con đường tiếp tế là đường ṃn Hồ Chí Minh. Tấn
công đường ṃn này bằng bộ binh là bước kế tiếp, do vậy đến tháng Hai năm sau
(1971) quân CSBV đă chuẩn bị đối phó. (Ngày 8/2/1971, Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa
khởi động cuộc hành quân Hạ Lào).
* Đại tướng Westmoreland nhận định về cuộc hành quân
Lam Sơn 719 (Hạ Lào):
Do có lệnh không cho sử dụng kinh phí cho quân đội Hoa Kỳ vào các cuộc hành quân
vượt khỏi lănh thổ VNCH do Thượng viện áp đặt vào tháng 12 năm 1970 nên lực
lượng Hoa Kỳ không thể tham dự cuộc hành quân này, nhưng sẵn sàng yểm trợ Không
quân, tiếp tế cùng yểm trợ về Pháo binh tầm xa đặt tại Khe Sanh.
Dù cho các tin đồn trong giới quân nhân và báo chí Mỹ đă làm cho CSBV biết mà
chuẩn bị trước, nhưng quân đội VNCH đă thu đạt được chiến thắng thần tốc. Họ
tiến sâu vào lănh thổ Lào chừng 25 cây số và tiến đánh hầu hết các mục tiêu định
trước, nhưng về sau CSBV cố sức phản công. V́ hỏa lực pḥng không của địch quá
mạnh nên một vài nơi không thể tiếp tế được nên các đợt vị này phải rút lui.
Việc rút lui trước một hỏa lực mạnh của địch lúc nào cũng là công tác khó khăn
nhất của một đơn vị khi lâm trận.
Lúc này mới thấy sự chuẩn bị của phía Việt Nam có nhiều khuyết điểm. Phối hợp chỉ huy ở cấp cao nhất không đồng bộ và kế hoạch tấn công diễn ra quá nhanh khiến cho các đơn vị không yểm trợ nhau hữu hiệu gây khó khăn cho phía Hoa Kỳ yểm trợ có kết quả. Sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ và vị chỉ huy tổng quát phía Việt Nam lại ở hai căn cứ khác nhau. Phải ghi nhận rằng binh sĩ Việt Nam Cộng Ḥa tại chiến trường Lào rất can đảm. Phi công Hoa Kỳ bay yểm trợ và tiếp tế cũng rất can trường. Tôi thật sự vô cùng xúc động khi nghe tin hai chiến binh Hoa Kỳ có hành động rất đáng khâm phục.
Người sống sót duy nhất sau vụ phi cơ rớt trong một chuyến tải thương cho căn cứ hỏa lực VNCH là hạ sĩ nhất Dennis Fuji giúp các binh sĩ trú pḥng Việt Nam chiến đấu chống trả quân địch bằng cách hướng dẫn trực thăng vơ trang bắn phá và phi cơ oanh tạc trút bom xuống quanh căn cứ suốt ba ngày liền, cuối cùng cứu được căn cứ này khỏi bị địch tràn ngập. Fuji là một trong những nhân viên phi hành của phi đội tiếp tế tải thương cho đồn biên pḥng khác nhưng hỏa lực pḥng không địch quá dày dặc. Thoạt đầu phi công không chịu thấu nhưng cuối cùng anh đă xuống được. Khi phi cơ cất cánh lên lại th́ bị trúng đạn và bốc cháy nhưng viên phi công đă khéo léo lết đến một căn cứ khác và đáp xuống. Về sau phi hành đoàn được cứu về nhưng Fuji đă t́nh nguyện ở lại. Trong hai ngày đêm anh liên tiếp phụ giúp việc gọi hỏa lực yểm trợ để giải tỏa áp lực địch bao vây quanh căn cứ này. Sau hai lần bị thương anh mới chịu trở về để chữa trị.
Binh sĩ Việt Nam Cộng Ḥa c̣n biết thêm một tên gọi trên vô tuyến nữa là Music 16 tức Đại úy Keith A. Brandt, người đă có công cứu 88 binh sĩ VNCH cầm cự trong một hố bom để đối đầu với lực lượng địch chỉ cách họ trong tầm ném lựu đạn. Sau khi đă đổ đạn dược xuống được nơi chiến đấu, Đại úy Brandt c̣n hướng dẫn một phi đội đến để giải cứu. Khi gần đến vị trí th́ hỏa lực địch bắn quá rát khiến anh phải cất cánh lên cao: Đạn bắn hỏng hệ thống thủy lực và máy bị phát hỏa, anh gọi máy về báo như vậy, nhưng vẫn cố gắng bay ṿng lại lần nữa để hướng dẫn phi đội đến vị trí khi trực thăng anh đă thấy một vệt khói dày dặc phun ra. Chỉ điểm vị trí xong, anh bay ṿng ra và nói: Tôi sẽ bay ra sông. Lần cuối cùng nghe anh nói là: Máy tôi hỏng rồi, hộp số bị hư. Vĩnh biệt, cho tôi gửi lời nhắn với gia đ́nh. Tôi chết đây. Gần đến sông th́ phi cơ phát nổ và rớt xuống lùm cây bên bờ. Đại úy Brandt được truy thăng, tấm gương hy sinh của đại úy thật cao cả. Trong lúc đó, bất chấp làn mưa đạn của địch, phi cơ giải cứu vẫn tiến hành công tác. Họ trở về với những trực thăng khệnh khạng v́ quá tải. V́ trực thăng không đủ chỗ ngồi, binh sĩ VNCH có người phải bu càng. Đối với những ai thấy rơ từ đầu đến cuối mới cảm phục ḷng can đảm của các chiến sĩ VNCH và sự gan dạ của các phi công trực thăng.