Đại
Tướng Westmoreland Và Tuyến Lửa Khe Sanh
Vương Hồng Anh tổng hợp
LTS: Tiếp theo loạt bài Tưởng niệm 30-4, xin iới thiệu đến bạn đọc những tài liệu đặc biệt liên quan đến các sự kiện quân sự, chính trị giưă VNCH và Hoa Kỳ, đă được Bộ Quốc pḥng và Bộ Ngoại Hoa Kỳ giải mật và chuyển giao cho Văn Khố Quốc gia Hoa Kỳ.
* Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại
Việt Nam Westmoreland và kế hoạch bảo vệ pḥng tuyến lửa Khe
Sanh
Vào cuối năm 1967 và đầu năm 1968, các tin tức t́nh báo ghi
nhận các cuộc tập trung và di chuyển quân của CSBV gần khu
vực căn cứ Khe Sanh. Theo nguồn tin tổng hợp, sư đoàn 325
CSBV đang di chuyển đến phía Bắc của căn cứ, trong khi đó về
phía Đông là các trung đoàn của sư đoàn 304 CSBV. Tổng quân
số của 2 sư đoàn CSBV này được ước định gần 20 ngàn Cộng
quân. Cách đó không xa, hai sư đoàn 324 và 320 CSBV đă khai
triển lực lượng, sẵn sàng bao vây Khe Sanh. Trước t́nh h́nh
đó, Đại tướng Westmoreland, Tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại
Việt Nam (1964-1968), đă hội ư với Đại tướng Cao Văn Viên,
Tổng tham mưu trưởng Quân lực VNCH để bàn phương thức đối
phó: hoặc là bỏ Khe Sanh cho CSBV, hoặc tiếp tục giữ căn cứ
này để khống chế và cản trở đường tiếp liệu của Cộng quân
bằng cách đánh bại cuộc tấn công của đối phương mà liên quân
Việt- Mỹ đă biết trước. Sau khi cân nhắc về cuộc diện trận
chiến, Đại tướng Westmoreland và Đại tướng Viên đi đến quyết
định giữ căn cứ Khe Sanh bằng mọi giá. (Tướng Westmoreland
đến VN vào cuối tháng 1/1964 với chức vụ ban đầu là Phụ tá
cho Đại tướng Paul Harkins, Tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại VN.
Đến ngày20 tháng 6/1964, ông chính thức giữ chức Tư lệnh lực
lượng này thay Đạ tướng Harkins về hưu. )
Để thực hiện quyết định này, Đại tướng Westmoreland đă trao quyền cho Trung tướng Cushman, tư lịnh Lực lượng 3 Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ-đang hoạt động tại Vùng 1 chiến thuật, trực tiếp tổ chức cuộc pḥng thủ để bảo vệ Khe Sanh. Tuy nhiên, Tướng Westmoreland cũng khuyến cáo tướng Cushman không nên tập trung quá nhiều đơn vị tại căn cứ Khe Sanh, điều đó sẽ gây trở ngại cho việc tiếp tế. Sau khi nghiên cứu địa h́nh và những dự báo về chiến sự, Tướng Cushman tái phối trí lực lượng trú pḥng với các thành phần: 3 tiểu đoàn của Trung đoàn 26 Thủy quân Lục chiến (TQLC), 1 tiểu đoàn của trung đoàn 9 TQLC, 1 tiểu đoàn Pháo binh TQLC với 18 khẩu pháo binh 105 ly, tăng cường 6 khẩu 155 ly, 1 chi đội thiết xa với 5 thiết giáp trang bị đại bác cùng hai trung đội súng 106 mm không giật chạy bằng bánh xích yểm trợ, gần Khe Sanh là doanh trại Làng Vei của một đơn vị Biệt kích quân Biên pḥng.
Sau đây là phần phân tích và nhận
định của Đại tướng Westmoreland (vừa từ trần ngày 18/7/2005,
thọ 91 tuổi) về pḥng tuyến Khe Sanh. Phần này được tổng hợp
dựa theo bản dịch của dịch giả Duy Nguyên, và các tài liệu
của Trung tâm Quân sử Lục quân Hoa
*Lược tŕnh về pḥng tuyến Khe Sanh
Vào giữa năm 1960, khi bộ Tư lệnh Quân đoàn 1/ Vùng 1
chiến thuật và Phái bộ Cố vấn Hoa Kỳ nghiên cứu soạn thảo kế
hoạch xây cất một số căn cứ trọng yếu dọc theo biên giới
Việt-Lào trong lănh thổ hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên th́
Khe Sanh là một căn cứ phía cực Tây trong số những căn cứ
này, nằm trong địa phận quận Hướng Hóa, cách biên giới Lào
khoảng 10, cách Đông Hà khoảng 60 km đường chim bay. Căn cứ
được xây dựng vào tháng 8/1960 nằm gần một sân bay cũ của
quân đội Pháp trước 1954. Đây là một tiền cứ thuận lợi cho
các hoạt động của lực lượng Dân sự chiến đấu (Biệt kích quân
Biên pḥng), một thành phần được Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ
huấn luyện và chỉ huy trong giai đoạn đầu.
Sau khi tiền cứ Khe Sanh được thiết
lập, Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ đă trấn đóng tại đây cho đến
tháng 10/1966, sau khi xây cất xong doanh trại Làng Vei lân
cận ở phía Tây Nam Khe Sanh, nằm ngay trên Quốc lộ 9, gần
biên giới Việt-Lào. T́nh h́nh chiến sự tại Khe Sanh bắt đầu
sôi động vào tháng 4/1966 khi Cộng quân tung một thành phần
chủ lực hoạt động gần Khe Sanh. Để truy lùng địch, Liên quân
Việt- Mỹ đă khởi động chiến dịch trong vùng Khe Sanh, về
phía Hoa Kỳ, nỗ lực chính trong cuộc hành quân này là tiểu
đoàn 1/3 Thủy quân Lục chiến. Đến tháng 10/1966, Khe Sanh
được giao Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ bàn giao cho Lực lượng 3
Thủy bộ Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ. Tiểu đoàn 1/3 Thủy quân
Lục chiến HK được ủy nhiệm tiếp nhận căn cứ, đơn vị này đă
phối hợp với Công binh Thủy quân Lục chiến HK biến đổi tiền
cứ này trở thành một căn cứ yểm trợ hỏa lực với một phi đạo
được tu bổ lại đủ khả năng tiếp nhận nhiều loại phi cơ.
* Trận chiến quanh các ngọn đồi Khe Sanh trong 2 năm
1966-1967:
Từ tháng 10/1966 đến tháng 1/1967, t́nh h́nh chiến sự tại
Khe Sanh không có các cuộc đụng độ lớn. Từ tháng 2/1967 đến
tháng 12/1967, hoạt động của các đơn vị Thủy quân Lục chiến
Hoa Kỳ được ghi nhận như sau:
Tháng 2/1967, Tiểu đoàn 1/3 Thủy quân Lục chiến (TQLC) được hoán chuyển bởi đại đội E tiểu đoàn 2/9 TQLC. Ngày 15 tháng 3/1967: Đại đội B/Ttiểu đoàn 1/9 thay thế vị trí pḥng thủ Đại đội 1 tiểu đoàn 2/9. Tháng 4/1967, tin tức t́nh báo của liên quân Việt-Mỹ ước định có khoảng 1 trung đoàn CSBV đang hoạt động quanh Khe Sanh; ngày 20 tháng 4, Lữ đoàn 3 TQLC do Đại tá John Lannigan lănh trách nhiệm hành quân toàn vùng này. Ngày 24/4, Cộng quân mở một loạt tấn công vào một số vị trí tiền cứ quanh Khe Sanh, kịch chiến đă diễn ra giữa đơn vị trú pḥng và CSBV. Ngày 25 tháng 4, Ttiểu đoàn 2/3 và 3/3 bắt đầu được không vận vào chận địch, lực lượng này đă tung các đợt tấn công vào đội h́nh địch, đến ngày 28 tháng 4/1967, Tiểu đoàn 2/3 do Trung tá De Long chỉ huy chiếm ngọn đồi 861. Sau 4 ngày hỗn chiến, tiểu đoàn 3/3 đă tiến chiếm đồi 881 Nam, 1 ngày sau (3/5), Tiểu đoàn 2/3 đă vô hiệu hóa các ổ hỏa lực của CQ ở phía Nam đồi 881 Nam, đến ngày 5 tháng 5/1967, tiểu đoàn này đă đánh bật CQ ra khỏi khu vực quanh đồi nói trên.
Trận chiến trên các ngọn đồi lại bùng nổ vào ngày 11 tháng 5/1967 và kéo dài trong 2 ngày. Tổng kết có 940 Cộng quân bỏ xác tại trận, phía Hoa Kỳ có 155 quân sĩ bị tử trận. Trong ngày 13 tháng 4/1967, Lữ đoàn 3 TQLC Hoa Kỳ được bốc về Đông Hà, bộ chỉ huy Trung đoàn 26 TQLC Hoa Kỳ và Tiểu đoàn 1/26 được không vận đến Khe Sanh. Cũng trong ngày này, Đại tá John Padley thay thế Đại tá Laginan chỉ huy Trung đoàn 26 TQLC. Ngay khi đến Khe Sanh, Tiểu đoàn 1/26 TQLC khai triển các đại đội tiến chiếm các cao điểm 861, 881 và 950.
Ngày 14/5/2967, chiến dịch Crockett được bắt đầu nhằm giải tỏa áp lực CQ quanh Khe Sanh. Liên tiếp trong gần 1 tháng, được sự yểm trợ của Không quân và Pháo binh, lực lượng TQLC Hoa Kỳ pḥng thủ Khe Sanh đă tung các cuộc hành quân truy kích quanh khu vực. Ngày 13 tháng 6/1967, Tiểu đoàn 3/26 được tăng cường cho mặt trận Khe Sanh để chận đứng các hoạt động của đối phương.Ngày 16 tháng 6/1967, chiến dịch Crockett chấm dứt, kết quả: 240 CQ bỏ xác tại trận địa, phía Hoa Kỳ có 52 TQLC tử trận. Một ngày sau, Thủy quân Lục chiến HK tại giới tuyến khởi động chiến dịch Ardonne, chiến dịch này kéo dài đến ngày 31 tháng 10/1967 với kết quả: 113 CQ bỏ xác tại trận, 10 TQLC Hoa Kỳ hy sinh. Cũng trong thời gian diễn ra chiến dịch, vào ngày 12 tháng 8/1967, khi áp lực của CQ đă giảm, 2 đại đội K và L của tiểu đoàn 3/6 được tăng cường cho trung đoàn 9TQLC, 5 ngày sau, phi đạo Khe Sanh được đóng cửa để tiến hành sửa chữa. Đến 3 tháng 9/1967, thành phần c̣n lại của Tiểu đoàn 3/26 được đưa nốt về Quảng Trị. Đến ngày 27 tháng 10, phi đạo Khe Sanh đă mở cửa lại để cho phi cơ C 123 đáp xuống.
Ngày 1 tháng 11/1967, chiến dịch
Scotland 1 bắt đầu, đến ngày 13 tháng 12, Tiểu đoàn 3/26
TQLC lại được không vận vào Khe Sanh v́ áp lực CQ gia tăng.
Ngày 21 tháng 12/1967, Tiểu đoàn này khởi động một cuộc hành
quân 5 ngày về phía Tây căn cứ, nhưng không chạm địch.
Đến cuối năm 1967, có hơn 2 ngàn Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ
đóng quân tại căn cứ này cùng với một đơn vị pháo binh yểm
trợ nằm giữa ba ngọn đồi về hướng Tây Bắc.
* Vị trí chiến thuật và chiến lược của căn cứ Khe Sanh:
Khe Sanh là một ḷng chảo ở giữa Cao nguyên đất đỏ, được bao
bọc bằng những ngọn đồi cây cối và tre nứa. Từ Khe Sanh,
liên quân Việt Mỹ tung các đơn vị bộ chiến và sử dụng Pháo
binh đánh phá các tuyến đường xâm nhập và vận chuyển tiếp
liệu từ Bắc Việt vào lănh thổ Lào cũng như dọc theo biên
giới vào Miền Nam Việt Nam. Rút kinh nghiệm từ bài học Điện
Biên Phủ, Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đă cho phát quang các
ngọn đồi chung quanh. Vào đầu năm 1968, các toán thám sát đă
giao chiến với lực lượng lớn của Cộng quân gần đồi 861, khám
phá nhiều vị trí được xây dựng rất kiên cố, đến ngày 2 tháng
1/1968, có 5 sĩ quan CSBV bị toán quân tuần tiễu bắn hạ gần
phi đạo Khe Sanh, từ những khám phá đó, Bộ Tổng tham mưu
Quân lực VNCH và bộ tư lệnh Lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam
nhận định rằng căn cứ Khe Sanh được xem như là một cứ điểm
chiến lược trong các cuộc tấn công của CQ, v́ vậy kế hoạch
bảo vệ Khe Sanh được thực hiện rất quy mô.
Trước hết, hai tiểu đoàn TQLC Hoa
Kỳ được gửi đến để phát quang các ngọn đồi 861, 881 Bắc và
881 Nam. Họ được nhanh chóng thay thế bằng tiểu đoàn khác
của trung đoàn 26 TQLC Hoa Kỳ. Có nhiều dấu hiệu cho thấy
Cộng quân sẽ dùng mọi cách để triệt tiêu Khe Sanh v́ vị trí
này đă vô hiệu hóa cường lực của Cộng quân và việc vận
chuyển tiếp liệu vào Nam. Các tin tức t́nh báo cho biết Sư
đoàn 325 CSBV đang di chuyển đến tại một vị trí tại phía Bắc
căn cứ, về phía Đông Nam là sư đoàn 304 CSBV, tổng số lực
lượng CSBV trong giai đoạn này gần 20,000 CQ. Cách đó không
xa lắm là sư đoàn 324 và 320 CSBV đă chuẩn bị sẵn sàng lực
lượng để bao vây căn cứ. Các đơn vị CSBV này đều được trang
bị đầy đủ đại pháo, súng cối và hỏa tiễn chống chiến xa.Từ
những diễn biến chiến trường, Liên quân Việt-Mỹ đă phải chọn
một trong hai đường: hoặc bỏ Khe Sanh cho CSBV, hoặc tiếp
tục giữ vững gọng ḱm ngăn cản tuyến đường tiếp liệu của CQ
bằng cách đánh bật cuộc tấn công của đối phương mà Liên quân
Việt-Mỹ đă biết trước.