Phạm Huấn - Nhà Báo Quân Đội
Phạm Huấn là một nhà báo quân đội và trong “Bộ Biên Tập Diều Hâu”.
Thành viên Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên và 2 Bên, đặc trách về
Báo Chí, khi Hiệp Định Paris 1973 được kư kết.
Chủ tịch Hội Phóng Viên Chiến Tranh Việt Nam, 1972-1975.
Tác giả đă theo học Trường Vơ bị Đà Lạt năm 1956, Trường Đại
Học Quân Sự năm 1963.
Và cá Trường Quân sự tại Hoa Kỳ: Infantry School (Fort Benning, GA, 1958), Civil Affairs School (Fort Gordon, GA) và Special Warfare School (Fort Braggs, NC, 1965).…
Trong nghề pḥng viên chiến tranh, Phạm Huấn có một chỗ đứng riêng biệt, dù đi chung với những phóng viên nổi tiếng hàng đầu của thế giới như Moshe Dayan, Dickey Chapel… hay chỉ đi có một ḿnh, bao giờ anh cũng được đón nhận nồng nhiệt của mọi chiến hữu ở ngoài mặt trận.Năm tháng sau cùng của chiến tranh Việt Nam, anh bỏ bàn hội nghị với Cộng Sản tại Saigon, theo Tướng Phạm Văn Phú lên Pleiku, chắc chắn không phải là một sự ngẫu nhiên. Những gh́ mà Phạm Huấn biết được trong cái nôi của mọi khởi biến trọng đại ấy, đă là những chứng liệu quí báu, giúp chúng ta nh́n rơ hơn t́nh huống lúc bấy giờ.
Với tôi chỉ là một câu hỏi thừa thăi: Tại sao, bây giờ, sau
nhiều năm, Phạm Huấn mới chịu công bố những sự kiện trên? Sự
kiện càng đắt giá bao nhiêu, câu hỏi thừa thăi càng nở lớn
bấy nhiêu. Tại sao? Tôi không chờ đợi một cây trả lời chiếu
lệ, khỏa lấp. Phạm Huấn có quyền giữ cho riêng Anh những
điều bí ẩn ấy.
Tác giả Phạm Huấn, trong những lời cuối của cuốn bút kư
chiến trường lịch sử “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975” đă
bày tỏ: “Tôi đă viết ra tất cả những bí mật, những cái lệnh
của các tướng lănh, lănh đạo đất nước và quân đội, và mọi
diễn biến xảy ra trong “Cuộc rút bỏ Cao Nguyên tháng
3,1975”, dưa đến sự sụp đổ tinh thần, làm tan ră QLVNCH, và
mất nước sau đó. Những tiết lộ trong cuốn sách này, ngoài
đoạn viết về “quyết định Cam Ranh 14.3” của năm tướng Thiệu,
Khiêm, Viên, Quang, Phú; tất cả là sự thật và có chứng tích.
Về “Quyết định Cam Ranh 14.3”, tôi đă viết đi viết lại nhiều
lần, và đây là lần tôi ưng ư nhất. Tôi có mặt tại “ṭa Bạnh
Dinh” Cam Rang sáng ngày 14.3.1975, nhưng tôi không được
tham dự buổi họp này
Tôi viết những tiết lộ của Tướng Phú, bằng những diễn biến
sau đó của cuộc rút quân, bằng sự suy diễn của một nhà báo
đă nghiên cứu về Chiến Trường Cao Nguyên, và hiểu biết một
phần nào “cuộc đời chính trị và quân sự” của các tướng lănh
hiện diện trong phiên họp.
Giữa năm 1986, trước khi hoàn thành cuốn sách, mới mong ước
tập tài liệu đặc biệt này có một giá trị tuyệt đối, tôi đă
bỏ ra một tháng trời tại miền Đông Hoa Kỳ, bằng mọi cố gắng
xin gặp Đại Tướng Cao Văn Viên, cựu Tổng Tham Mưu Trưởng
QLVNCH. Tôi muốn được nghe một “tiếng nói thứ hai” về Quyết
Định Cam Ranh ngày 14.3.1975, v́ Đại Tướng Viên là một nhân
vật rất quan trọng trong cuộc họp lịch sử nàyLúc đầu, Đại
tướng Viên từ chối không tiếp tôi, với 2 lư do:
- Đất Nước mất đă hơn 11 năm, Ông không muốn nhắc lại chuyện
cũ, gây nên hiểu lầm, làm buồn ḷng những anh em đă chết.
Hiện tại, dù đă trên 60 tuổi, ông vẫn phải làm việc rất vất
vả, cực khổ để sinh sống, và ít khi có mặt ở nhà. Tuy nhiên,
với sự khẩn khoản yêu cầu của tôi, Đại Tướng Viên đồng ư cho
tôi phỏng vấn trên điện thoại. Nhưng thật bất
ngờ, sau đó, không biết v́ lư do ǵ, tôi đă gọi khoảng 30 cú
điện thoại viễn liên, mà không lần nào gặp ông. Tôi chỉ được
nói chuyện rất nhiều lần với bà đại tướng Cao Văn Viên. Tuy
vậy, tôi vẫn chưa thất vọng. Tôi tin rằng trong tương lai,
có dịp được diện kiến với Tướng Viên, chắc chắn, ông sẽ nói
cho tôi biết những điều đúng, những điều sai về “quyết định
Cam Ranh 14.3.1975” mà tôi đă viết ra. Và nếu có những điều
sai, tôi sẵn sàng viết lại thêm một lần nữa và “Quyết Định”
có tính cách lịch sử này.Tôi xin chịu trách nhiệm về những
điều tôi viết trong cuốn sách. Tôi cũng xin sẵn sàng chấp
nhận mọi sự phê phán, mọi chuyện xảy ra, bất cứ từ đâu tới.
Đây là việc làm tôi đă suy nghĩ trong một thời gian khá lâu,
trước khi quyết định phổ biến mọi bí mật mà tôi biết về
“Cuộc rút quân Cao Nguyên”, và những ngày cuối cùng trên
Chiến Trường Quân Đoàn II.Trong cái nhục của một người quân
nhân bại trận, hèn nhát trốn chạy sang đây, tôi đă muốn quên
đi tất cả. Nhưng, những h́nh ảnh của trận chiến sau cùng
luôn luôn chờn vờn, ẩn hiện trước mắt tôi. Tôi rất đau đớn
và vô cùng phẫn nộ, khi phải nghe, phải đọc, hoặc ai nhắc
đến câu: “Tan hàng bỏ chạy, chưa đánh đă chạy v.v.”đó là một
sỉ nhục chung cả tập thể QLVNCH! Điều đó không
đúng. Xin hăy kết tội, phê phán những sai lầm của các tướng
lănh, các cấp chỉ huy lănh đạo đất nước, chỉ huy quân đội,
và kết tội tôi đă làm mất nước, đă thua trận, đă hèn nhát.
Nhưng hăy để yên cho những người đă chiến đấu và đă chết
trong trận chiến sau cùng được yên nghỉ.Sau
khi Phước Long mất, Mặt Trận Ban Mê Thuột bùng nổ đầu tiên,
ngày 10.3.1975, trong trận đánh quyết định sau cùng, tinh
thần chiến đấu của các đơn vị QLVNCL như thế nào, những
trang sách trên đă ghi lại mọi diễn biến, và từng ngày, từng
giờ xảy ra. Khi Cộng sản Bắc Việt tấn công Ban Mê Thuột, các
đơn vị chủ lực của QLVNCH tại thị xă này gồm Trung Đoàn Bộ
Binh, Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân, các đơn vị Pháo Binh 105
ly, và Thiết Vận Xa M113, trong 7 ngày chiến đấu, gần như
100% lực lượng của Trung Đoàn 53 Bộ Binh, và các đơn vị Pháo
Binh, Thiết Vận Xa bị thiệt hại, Liên Đoàn 21 Biệt Động quân
bị tổn thất khoảng 80% quân số. Các anh hùng phi công của
Không Quân Việt Nam đă chiến đấu gan dạ phi thường, để yểm
trợ cho những cánh quân bạn dưới đất, và đánh những chiến xa,
những dàn đại pháo của địch. Họ bị pḥng không Cộng Sản Bắc
Việt bắn hạ như mỗi ngày, có ngày 3 phản lực cơ A-37 và 1
trực thăng vơ trang bị bắn cháy, bị nổ tung như ngày
13.3.1975.
17 ngày sau cùng trên chiến trường Quân Khu II, kể từ
17.3.1975, song song với cuộc rút quân, các Mặt trận Phước
An, Khánh Dương, B́nh Định, đều đồng loạt bùng nổ. Tại khắp
các Mặt Trận, Cộng sản Bắc Việt với một lực lượng quân chính
qui đông hơn gấp từ 5 tới 10 lần, có chiến xa, đại pháo yểm
trợ, do đó, chúng đă làm chủ t́nh h́nh ngay từ phút đầu. Tuy
nhiên, các đơn vị chủ lực c̣n lại của Quân Đoàn II, và Lữ
Đoàn 3 Nhẩy Dù, chỉ buông súng khi bị tràn ngập, hoặc đă bị
thiệt hại 70% quân số, và không c̣n được tiếp tế đạn dược,
không c̣n liên lạc được với quân đoàn. Trước
ngày 30.3.1975, 2 trung đoàn 41, 42, 47 của sư đoàn
22 Bộ Binh tại
các mặt trận quốc lộ 19, và Bắc B́nh Định, sau khi bị thiệt
hại ở chiến trường, và trên 30 cây số đường rút quân, xuống
tầu tại Quy Nhơn được khoảng 1,000 người. Bị thiệt hại trên
70%. Lữ đoàn 3 Nhẩy Dù tăng phái cho Mặt trận Khánh Dương,
buông súng trưa ngày 1.4.1975, sau khi vỡ tuyến, bị tràn
ngập, và không c̣n được tiếp tế, liên lạc được với quân đoàn
II. Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù bị tổn thất 70% lực
lượng. Đó là thực trạng và tinh thần chiến đấu của các đơn
vị chủ lực Quân Đoàn II, và Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù trong những
ngày sau cùng trên chiến trường Cao Nguyên.Pleiku,
Kontum, Nha Trang: Chưa đánh đă bỏ chạy! Đúng!
Cuộc rút bỏ Pleiku, Kontum năm 1975 là một sai lầm nghiêm
trọng, một thiệt hại lớn lao nhất trong lịch sử chiến tranh
Việt Nam. Tất cả lực lượng chiến xa M48, M41, và Pháo Binh
nặng, Đại bác 175 ly, 155 ly của quân Đoàn bị hủy diệt. Gần
20 ngàn quân tinh nhuệ bị… thảm sát 7 liên đoàn Biệt Động
Quân, Lữ Đoàn 2 thiết Kỵ, Liên Đoàn 6 Công Binh Chiến Đấu,
các đơn vị Lôi Hổ, Thám Kích bị thiệt hại từ 70% tới 80%.
Tôi dùng chữ “Thảm Sát” ở đây, v́ hầu hết bị chết bởi pháo
của Cộng Sản Bắc Việt, bom đó do Không Quân thả trúng, ḿn
bẫy của Đồng Minh và quân ta, gài từ trước trên tỉnh lộ 7.
Đó là một quyết định sai lầm về chiến lược. Tâp đoàn Tướng
Lănh lănh đạo Đất Nước và Quân Đội phải chịu trách nhiệm
trước lịch sử về quyết định rút bỏ Cao Nguyên 1975, đưa đến
sự sụp đổ, tan ră QLVNCH, và mất nước. Tổ chức và hệ thống
chỉ huy tồi tệ của cuộc rút quân, không phối hợp, vô trách
nhiệm, vô kỷ luật: Đó là trách nhiệm của các Tướng Lănh bộ
Tổng Tham Mưu QLVNCH, các Tướng Tham mưu quân Đoàn II.C̣n về
Nha Trang bỏ chạy, đó là chuyện đương nhiên. Bởi v́, B́nh
Định, Phú Yên đă mất, tất cả các đơn vị chủ lực Pháo Binh,
Thiết Vận Xa của Quân Đoàn II đă bị đánh bại tại 2 mặt trận
Phước An và Khánh Dương. Tuyến cuối cùng của Lữ Đoàn 3 Nhẩy
Dù trên Đèo M’Drak đă bị vỡ, bị tràn ngập. Kể từ trưa ngày
1.4.1975, Nha Trang chỉ c̣n được “pḥng thủ” bởi các lực
lượng Cộng quân không cần đánh, Nha Trang cũng mất!
Tối ngày mồng 4 Tết Ất Dậu, 2005, chúng tôi vào thăm nhà báo
Phạm Huấn ở dưỡng đường Mission De La Casa, San Jose. Ông bị
tai biến chứng về cột xương sống. Đây là hậu quả khi ông
tham dự vào 1 lần tập huấn tại Trung Tâm Luyện Nhẩy Dù, thời
đầu thập niên 1960.
Buổi tối San Jose khá lạnh. Chúng tôi nói chuyện với ông về
kỷ niệm những ngày ông đă từng đi chung với nữ kư giả chiến
tranh Dickey Chapel ở cấp đại đội, tại chiến trường Việt
Nam. Sau này bà đă thiệt mạng, trong lần thứ hai trở lại
chiến trường này. C̣n bây giờ, người phóng viên chiến tranh
Phạm Huấn đang ngồi âm thầm bên chiếc bàn nhỏ, trên đó có
đĩa bánh chưng rán của người thân mang vào cho ông trong
những ngày đầu năm. Ông chỉ ăn được một phần nhỏ, và ông
cũng không rơ đă ăn chưa, v́ chứng bệnh alzheimer…
Sáng ngày mồng 5 Tết, các nữ ca sĩ Kim Tước, Mai Hương,
Quỳnh Giao cũng đă đến thăm ông. Mọi người đều bùi ngùi.
Phạm Huấn, phóng viên chiến tranh, tài tử của phim “Ngàn Năm
Mây Bay”, người chứng kiến lịch sử đoạn kết của VNCH 1975
bây giờ đang ngồi, mắt xa xăm, trong 1 dưỡng đường ở San
Jose, California. Gần đó, cuối dăy, bạn ông, nhà thơ Hoàng
Anh Tuấn cũng vừa nhập viện cách đây hơn một tháng…

Mời đọc bài viết của Văn Quang, từ Sài G̣n về 1 người bạn chung:
Phạm Huấn
Phóng viên chiến trường năm xưa đă ra đi
Lẩm cẩm Sài G̣n thiên hạ sự
Số 129 - ngày 24-10- 2005
* Văn Quang
Sáng thứ bảy ở VN, chiều thứ sáu 21-10-2005 ở Santa Ana, tôi nhận được điện thoại của người em dâu ở Mỹ báo tin: Phạm Huấn vừa "về với Chúa".
Thật ra điều này không làm tôi ngạc nhiên, v́ từ mấy năm nay
bạn bè đă cho tôi biết về bệnh t́nh Phạm Huấn. Anh nằm trong
"nhà an dưỡng" ở San Jose trong một t́nh trạng rất đáng buồn,
các bạn tôi nh́n thấy anh, không ai không mủi ḷng. Trong
thời gian đó tôi chỉ được coi một tấm h́nh anh ngồi ngơ ngẩn
trên hàng ghế đầu khi tŕnh làng tập thơ của Hoàng Anh Tuấn
ngay trong một căn pḥng khách của "nhà an dưỡng". Tôi không
thể nào h́nh dung được con người đẹp trai, hào hoa phong nhă
ngày nào, bây giờ lại& "thảm" đến như thế được. Chứng bệnh
mất trí nhớ hành hạ anh và cả những người thân của anh
thường xuyên có mặt bên giường bê.nh.
Phạm Huấn chỉ đóng một phim duy nhất
H́nh ảnh hôm nay, khiến tôi càng nhớ tới khi anh đóng phim "Ngàn
năm mây bay" do Thái Lai sản xuất dựa trên một truyện dài
của tôi xuất bản vào khoảng năm 1962. Và dường như đời anh
chỉ đóng có một cuốn phim duy nhất đó, thế nên nó cũng giống
như một cuộc vui chơi mà thôị Những lần sau đó, có người mời
anh đóng phim, anh đều từ chốị Ngay trong phim Chân Trời Tím,
tôi gợi ư anh vào vai một sĩ quan bảnh bao, học giỏi, con
nhà giàu, bên cạnh vai chính Hùng Cường và Kim Vui, nhưng
anh lắc đầu: "Tao thấy nhân vật đó hơi& kỳ". Và rồi vai nào
anh cũng chệ Mặc dầu đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc, đôi khi cũng
rủ rê anh "đóng một vai cho vui", cũng như Hoàng Vĩnh Lộc đă
từng rủ rê cả Duyên Anh, đóng vai bệnh nhân trong một bệnh
viện và Hà Huyền Chi vào vai "người vác quan tài" trong phim
"Người t́nh không chân dung". Gọi là đóng phim chơi cho vui,
có tên tuổi của những nhà văn, nhà báo cho thêm xôm tu..
Trong phạm vi đứng đắn của một tác phẩm, vẫn có những "tṛ
nghịch ngầm", vui chơi của anh chị em nghệ sĩ mà chắc khán
giả cũng biết. Nhưng nếu có ai gọi Phạm Huấn là tài tử, anh
cho rằng người ta "chọc giận" ḿnh. Bởi theo nhận định của
tôi, anh thích là một phóng viên chiến trường, một nhà văn,
hơn bất cứ thứ ǵ khác. Cuộc đời trai trẻ của Phạm Huấn sôi
nổi nhưng không "giang hồ đến cả hoa kia cỏ này" như ông bạn
già Phan Nghị của chúng tôị Một ngày của anh là công việc và
lăng du, t́nh yêu và quân ngũ, những thứ gắn liền với nhau
như từ trong máụ
Tôi không nhớ chính xác chúng tôi quen nhau từ năm nào,
nhưng gặp nhau là thân ngay, cũng gần nửa thế kỷ rồi đấỵ
Nhưng từ 30 năm nay, tôi không một lần gặp lại Phạm Huấn.
Nhớ lại lần đầu gặp anh, vào khoảng đầu thập niên 60, khi
anh về phục vụ tại Pḥng Báo Chí, Cục TLC. Khi ấy anh vừa từ
giă chức Đại đội trưởng Đại Đội Văn Nghệ ở vùng 1, đồn trú ở
Quảng Ngăị Có lẽ v́ yêu cuộc đời phóng viên nên anh xin về
làm báo quân độị Anh nói với tôi: "sẵn sàng đi bất cứ chiến
trường nào, chứ không muốn ngồi bàn giấy làm biên tập viên".
Cuộc đời phóng viên chiến trường
Ngay thời gian đầu, trong khi c̣n đang "học việc", anh đă tỏ
ra xông xáo và mộng ước của anh là được đi học nhảy dù để
khi cần có thể nhảy xuống những chiến trường sôi động trong
lửa đạn, cũng như Dương Phục và một số những anh phóng viên
trẻ khác đang muốn nâng cao tay nghề của ḿnh. Trên hết vẫn
phải nói đến ư chí của họ, là một người lính sống chết với
chiến trường như những chiến binh khác ngoài trận tuyến. Một
lần nữa Phạm Huấn hoàn thành được tâm nguyện của ḿnh. Từ đó
anh thường đi cùng một ê kíp phóng viên có mặt ở hầu hết các
chiến trường miền Nam. Một ê kíp phóng viên Quân Đội thường
có đủ mặt: phóng viên nhiếp ảnh, phóng viên quay phim truyền
h́nh, phóng viên báo chí, phóng viên phát thanh. Anh nào có
cấp bậc lớn hơn làm trưởng toán, bất kể anh ở chuyên môn nàọ
Những năm sau này, chiến trường trải rộng ở khắp các quân
khu nên chúng tôi phải lập nhiều toán thường trực mà không
thể đáp ứng hết các nhu cầụ Thế nên có những phóng viên vừa
ở Quảng Trị về đă phải khăn gói lên ngay Pleiku, Kontum,
hoặc chui vào B́nh Long& Hầu như họ không c̣n ngày nghỉ.
Nhất là mỗi lần đi công tác đều thiếu tiền. Theo nguyên tắc
hồi đó, để tiết kiệm ngân sách và cũng để pḥng ngừa những
chuyện lợi dụng có thể xảy ra, quân đội chỉ cho lănh công
tác phí tối đa là 15 ngày trong một tháng, mặc dù anh đi
công tác cả tháng. Điều đó tất nhiên gây nhiều thiệt tḥi
cho những anh phóng viên suốt tháng lăn lộn khắp " bốn vùng
chiến thuật". Tôi cũng muốn nói điều này để thấy được chúng
ta đă phải tiết kiệm như thế nào và sự ngăn ngừa tệ nạn "tiêu
cực" ráo riết đến mức nàọ Không phải cứ ở trong quân đội là
đầy đủ như một số người đă tưởng tượng rạ
Mỗi lần đi công tác là một lần lo tiền, có những PV phải vay
cào vay cấu vài ba chục ngàn làm tiền lộ phí. Đến ngay cả
cái xe ra phi trường, đôi khi cũng không có, nhờ bạn đèo xe
gắn máy hoặc vẫy cái taxi đi cho kịp giờ. Đến đơn vị nào
rảnh rỗi th́ có thể được ăn cùng ở cùng, nhưng nếu gặp khi
đơn vị nằm ở b́a rừng trong ṿng trận mạc th́& ráng tự xoay
xở lấỵ Anh trưởng toán lại lo sốt vó. Có điện thoại về cho "trung
ương" th́ cũng chưa chắc ǵ đă lo nổi, có khi c̣n được móc
ngay vào một công việc khác: "Nhà hết phóng viên rồi, nhân
tiện các anh ở Huế, đi luôn vào Quảng Ngăi làm cái phóng sự
ở một quận nào đó vừa có tin chiến trường nóng bỏng". Thế là
lại bay vào Quảng Ngăi và c̣n "tiện thể" đi những đâu nữa
th́ "hạ hồi phân giải". Miễn là mỗi buổi tối có một bài
tường thuật cho pḥng tin tức.
Phải cố gắng lắm, chúng tôi mới kiếm ra một chút ngân quỹ để
"đền bù" cho những thiệt tḥi ấy của các anh phóng viên trẻ
"rách hơn cái mền rách". (Nói theo chữ nghĩa bây giờ ở đây
là "bồi dưỡng" đúng nghĩa của nó, chứ không phải "bồi dưỡng"
theo kiểu hối lộ, chia chác hàng triệu đô la cứ như lấy đồ
trong túi). Tuy vậy số tiền bồi dưỡng chỉ có sau khi đi công
tác về và chỉ có một giới hạn nhất định, mỗi anh cầm tạm vài
ba chục ngàn, chỉ bằng tiền vài bữa cơm ngoài quán "Bà Cả
Đọi".
Anh chàng đào hoa quá khiến con gái& sợ
Sau những giây phút căng thẳng đó, Phạm Huấn lại trở về với
thành phố Sài G̣n và "rũ áo phong trần, khoác áo hào hoa".
Nh́n anh lúc đó chẳng khác ǵ một thư sinh công tử, không ai
nghĩ anh là PV chiến trường vừa thoát chết trên Đại lộ kinh
hoàng cùng với Vũ Thanh Thủy và Dương Phục.
Phạm Huấn và tôi có quá nhiều kỷ niệm vào những năm tháng
nàỵ Từ công việc trong mấy tờ báo Quân Đội đến cuộc sống
ngoài đờị Chiếc xe Taunus 15 như con trâu già của tôi đă
được Phạm Huấn lái đi chơi cùng khá nhiều người đẹp.
Trẻ tuổi, đẹp trai, độc thân, đấu ngọt như mía lùi, chơi mạt
chược cũng xuất sắc nên luôn vây quanh Huấn là những người
đẹp. Tất nhiên đi chơi với Huấn th́ phải chấp nhận phần
thiệt vẫn về tôị
Có một vài ca sĩ loại "sao đang lên" của Sài G̣n lúc bấy giờ
đă từng là "bạn gái" của Huấn. Tôi xin phép không kể tên ra
đây v́ tôn trọng cuộc sống của từng người hiện c̣n đang ở
đây hay ở nước ngoàị Tôi dùng chữ "bạn gái" v́ thật ra đối
với Huấn và ngay cả những người đẹp đó, dường như chỉ là một
t́nh cảm đậm đà trên mức b́nh thường một chút mà thôị Câu mà
Huấn thường đùa cợt với bạn bè là "vương vấn, vẩn vơ, vật vờ"
cho lên hương cuộc đờị Cũng đẹp lắm chứ. Có thể hiểu được
tâm trạng của những người đẹp khá nổi danh nàỵ Thích đấy,
vui đấy nhưng lại sơ.. Một anh chàng hào hoa và đào hoa quá
thường làm các cô gái e dè, "pḥng thủ cẩn mật" hơn là đối
với những vị thương gia thường tỏ ra hiền lành, dễ thương và
dễ bảo hơn. C̣n với Phạm Huấn th́ cũng thế, đối với những
người nổi tiếng, anh "chờn vờn" chứ không thể hay không dám
"đặt cược cuộc đời lâu dài" ḿnh vào đấỵ
Một ngoại lệ
Nhưng có một người đẹp nữ sinh được mệnh danh là "hoa khôi
Gia Long" th́ khá nặng t́nh với anh chàng phóng viên hào hoa
và đào hoa nàỵ Không biết bao nhiêu lần, chiếc xe của tôi đă
đưa hai người đi trên "xa lộ không đèn". Và chẳng lần nào
Huấn quên kể cho tôi nghe về những chuyện xảy rạ Chuyện của
họ vẫn ở trong ṿng lễ giáo và cho tôi cảm tưởng như họ có
thiện chí muốn "xây dựng cùng nhau". Hoa khôi Gia Long cũng
không hề giấu giếm tôi về những điều nàỵ Bởi thật ra hoa
khôi quen biết tôi từ trước khi Phạm Huấn về làm ở Cục TLC.
Cô hay vào pḥng báo chí như một độc giả, một "người em gái
hậu phương" gửi tâm t́nh ra tiền tuyến. Cô cũng có viết vài
ba bài cho báo Quân đội xung quanh đề tài "thời thượng" đó.
Và sau này, khi Phạm Huấn không c̣n ở bên cô nữa, cô thường
có những bài thơ đăng rải rác trên một vài tờ tuần báo ở Sài
G̣n, nhiều nhất là ở tờ Văn Nghệ Tiền Phong. Không ngần ngại,
cô gọi thẳng tên "H. ơi, c̣n nhớ ngày nào&". Sau năm 75, ở
lại Sài G̣n , tôi lại có dịp gặp lại hoa khôi Gia Long. Lúc
này đă con cái đùm đề, song vẫn c̣n đẹp, chúng tôi không
nhắc ǵ tới chuyện cũ, nhưng qua ánh mắt, lại thấy đầy đủ
h́nh ảnh những người xưạ Dường như người em trai của cô sắp
đặt buổi gặp gỡ này cũng chỉ v́ điều ấỵ
Tao lấy vợ
Đó là những ngày cậu trai rẻ Phạm Huấn khởi nghiệp làm phóng
viên và cũng bắt đầu viết văn. Anh có nhiều phóng sự và
truyện ngắn đăng trên các báọ Rồi đến khi có một khóa học về
báo chí ở Mỹ, Huấn mải đi làm phóng sự không có tên theo học.
Anh về đến pḥng, biết được tin này, anh lao lên pḥng Cục
trưởng TLC xin vào gặp. Hồi đó là thiếu tướng Trần Tử Oai
làm giám đốc. Một vị tướng khét tiếng nghiêm khắc từ thời
c̣n làm Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Quang Trung.
Chánh văn pḥng không dám đường đột cho vào, Huấn đạp cửa
vào và thản nhiên tŕnh bày ư muốn được đi học lớp nàỵ Không
hiểu sao, ông Trần Tử Oai lại "chịu đèn" anh chàng phóng
viên ngang ngạnh nàỵ Sau vài câu hỏi, ông kư giấy ngay cho
Huấn đi học Mỹ. Việc đó khiến cả pḥng báo chí chúng tôi
ngạc nhiên.
Tôi không c̣n nhớ rơ khóa học sẽ kéo dài trong bao lâu,
nhưng có một điều tôi nhớ rất rơ là sau khóa học về đến Sài
G̣n, Huấn tuyên bố với anh em trong pḥng "tao lấy vợ". Và
anh kể lại giai thoại anh gặp cô bé xinh xinh, đeo kính cận
đang theo học ở Mỹ như thế nàọ Giản dị đến không ngờ, họ
chơi bài với nhau cho qua th́ giờ rồi yêu nhau lúc nào không
biết. Chàng về nước trước, nàng xin phép gia đ́nh về saụ Đám
cưới của hai người tôi không dự được v́ theo học lớp tham
mưu ở Đà Lạt. Tôi gặp họ trong tuần trăng mật ở một ngôi
biệt thự rất đẹp ở cuối con đường lối vào Trường Chỉ Huy
tham mưụ
Kể từ đó, gia đ́nh Phạm Huấn với tôi càng thân thiết hơn.
Những năm sau này, không tuần nào mà chúng tôi không ngồi
xoa với nhau cho đến những ngày cuối tháng 4 -1975. Nhà tôi
chỉ có một bàn xoa mạt chược, mà bạn bè th́ quá đông, nên
anh nào cũng phải nhanh chân đến đúng giờ. Điệp, Tuấn, Thủy,
Phong, Tài, Hiến, Lệ Thu, NĐToàn, Hồng Dương là những chân
thường trực. C̣n về khuya th́ đôi khi các ông đi chơi chán
kéo đến, Hùng Sùi, Hoan Sứt,& ngồi một đống, đấu láo tưng
bừng. Các ông này quen chơi lớn, coi bàn chúng tôi là loại "c̣m",
ăn thua vài ba ngàn, nên chỉ đến "chầu ŕa, hút thuốc vặt",
xem mấy tay mơ đánh loạng quạng cho đỡ buồn. Thỉnh thoảng
Phạm Huấn cũng có đến, nhưng chỉ với mục đích ngồi coi ké
Điệp đui vui chơị
Một phóng sự để đời
Khi tôi chuyển sang phục vụ ở Đài Phát Thanh Quân Đội, Huấn
vẫn ở lại pḥng Báo chí. Có một thời anh làm tờ Diều Hâu
cùng anh Nguyễn Đạt Thịnh, chúng tôi quá bận rộn nên ít có
th́ giờ gặp nhaụ Vài năm sau này, Huấn sang làm ở Ủy ban
quân sự 4 bên ở Tân Sơn Nhất. Trong thời gian đó, khoảng
tháng 2 năm 1973, Phạm Huấn cùng với Phan Nhật Nam, Dương
Phục đi theo phái đoàn ra Hà Nội làm phóng sự trao trả tù
binh đợt 2 diễn ra tại Phi trường Gia Lâm. Vào thới chiến
tranh đó, Hà Nội đối với người dân miền Nam hoàn toàn xa lạ,
cho nên được dịp ra Hà Nội là chuyện hầu như không thể xảy
rạ Tất nhiên tôi phải đón sẵn Huấn để "vồ" về làm tường
thuật trực tiếp trên Đài PT Quân Độị Nhân tối đó có chương
tŕnh Nghệ sĩ với chiến sĩ đang thu thanh, Phạm Huấn tường
thuật toàn bộ chuyến đi Hà Nội ngay trong chương tŕnh nàỵ
Một phóng sự rất đặc sắc được thính giả đón nhận nồng nhiệt
khiến chúng tôi đă phải phát lại đến vài ba lần nữạ Ngay sau
đó cuốn sách "Một ngày tại Hà Nội" (1973) của Phạm Huấn được
xuất bản kèm theo những h́nh ảnh sống động mà trên làn sóng
điện phát thanh không thể nào có được. Đó cũng là cuốn sách
đầu tay của "nhà báo Phạm Huấn" và cũng là cuốn sách duy
nhất mà tôi được đọc. Sau này anh sang định cư ở Mỹ viết
thêm những cuốn khác:
- Triệt thoái Cao nguyên (1987);
- Những trận đánh lớn trước khi mất miền Nam (1988);
- Điện Biên Phủ 54 - Ban Mê Thuột 75 (1988);
- Trận Hạ Lào (1990), rất tiếc tôi không có để đọc.
Một người đáng được bạn bè tri ân
Năm sau cùng trong quân ngũ, Phạm Huấn lại nổi máu giang hồ,
lên Pleiku làm SQ báo chí Quân đoàn 2. Anh đi cùng tướng Phú
cho đến giờ phút cuối cùng. Anh điện thoại cho tôi khi "rút"
về đến Nha Trang, anh diễn tả lại cảnh "loạn lạc hoang tàn"
của thành phố này khi mọi người rời bỏ nó ra đị Vài ngày sau,
anh mới về được đến Sài G̣n trong khi gia đ́nh anh đă đi
theo tàu ra Phú Quốc. Anh tất tả vào gặp tôi ở Đài QĐ rồi
lắc đầu: "Tao cuốn gói".
Anh ra đi lúc nào và bằng cách ǵ, tôi cũng không biết. Cuộc
sống sau này bên xứ người ra sao tôi chỉ biết rất lơ mợ Điều
làm tôi ngạc nhiên chính là sự tan vỡ của gia đ́nh anh. Cho
đến khi Phạm Hùng trở lại VN cùng Phạm Long đến thăm, tôi
mới tin đó là sự thật. Nhưng mọi chuyện cũ qua rồi, những
vết thương rồi sẽ lành. Khi biết tin anh nằm ở bệnh viện,
bên anh có chị Hà chăm sóc tận t́nh, tôi thành thật mừng cho
anh. Có lẽ người chịu đựng với anh nhiều nhất trong những
ngày tháng vừa qua chính là chi.. Ít có người phụ nào chịu
đựng giỏi như thế. Tôi chưa quen chị, nhưng là bạn bè của
Huấn, tôi phải tri ân một người phụ nữ như chi.. Nhiều người
bạn Phạm Huấn cũng từng kể với tôi điều này, và bây giờ chắc
họ cũng muốn nói với chị Hà như vậỵ
Từ hôm được tin anh ra đi đến nay, tôi đă nhận được rất
nhiều thư từ, điện thoại của các bạn ở khắp nơị Trong số đó
tôi nhận được e mail của Điệp báo tin vừa sang San Jose và
cậu trưởng nam Phạm Huy Phong cũng có mặt từ trước hôm anh
ra đị Gia đ́nh Phạm Hậu người anh cả của anh đă hai lần phải
đổi vé máy bay v́ cứ tưởng anh đi sớm hơn nữạ Cuộc chơi của
người phóng viên quân đội đến bây giờ mới kết thúc trong nỗi
nhớ thương của mọi ngườị
Nhưng với 5 tác phẩm của anh để lại, thế hệ sau này sẽ có
dịp nh́n được rơ hơn những điều sống động, xác thật đă và
đang xảy ra trong lịch sử dân tộc ḿnh. Làm được điều này,
cuộc sống của anh đă thật sự có ư nghĩạ Không phải ai cũng
làm được như thế. Người phóng viên chiến trường năm xưa đă
ra đi, nhưng những ǵ để lại vẫn c̣n sống măị

Phạm Huấn: ‘Triệt Thoái’
Khỏi Cuộc Đời...
Trường Kỳ
- Tôi coi Phạm Huấn như một người anh rất thân thiết. Một
người anh văn nghệ hào hoa và rất chịu chơi. Tôi đă bàng
hoàng khi nhận được tin chỉ vài giờ sau anh qua đời tại một
nhà an dưỡng ở San Jose vào ngày 21 tháng 10 năm 2005, hưởng
thọ 68 tuổi. H́nh ảnh Phạm Huấn trong trí tưởng tôi luôn là
một Phạm Huấn đầy sinh động, hoạt bát, lạc quan và bất cần
đời, tức luôn coi cuộc đời như "pha", là câu nói thường
xuyên của anh. Nhưng h́nh ảnh thật sự của Phạm Huấn đă khiến
tôi ngỡ ngàng không tránh khỏi xúc động khi nh́n tấm h́nh
Nam Lộc chụp chung với anh khi Lộc đến thăm anh tại nhà an
dưỡng vào mùa Đông 2004. Đó là một Phạm Huấn tiều tụy, hốc
hác và thê thảm cùng một trí nhớ sa sút. Bài viết ngắn này
ghi lại một số kỷ niệm giữa anh và tôi, cũng như giữa anh và
phong trào nhạc trẻ Việt Nam để tưởng nhớ đến một người anh
đă hết ḷng trong việc phát triển phong trào nhạc trẻ và
nhất là tạo được cái duyên giữa nhạc trẻ và những người phục
vụ trong quân ngũ.
Nói thẳng ra, nếu không có Phạm Huấn, lúc đó là thiếu tá
phục vụ tại Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị, cùng nhà thơ Hà
Huyền Chi, tức đại úy Đặng Trí Hoàn nhúng tay vào th́ Đại
Hội Nhạc Trẻ Quốc Tế đầu tiên tại Việt Nam đă không có cơ
hội được diễn ra tại sân vận động Hoa Lư vào ngày 29 tháng 5
năm 1971. Kéo theo sau đó là những buổi đại hội nhạc trẻ
khác được tổ chức tại Thảo Cầm Viên Sài G̣n với số khán giả
tham dự trung b́nh khoảng 15 ngàn người, gấp ba số khán giả
tại các buổi Đại Hội Nhạc Trẻ Taberd tổ chức ngoài sân
trường từ giữa thập niên 60. Phạm Huấn "nhúng tay" bằng cách
nào ? Dù gặp nhiều chống đối từ phía đối lập thời đó và ngay
cả trong nội bộ Cục Tâm Lư Chiến, anh vẫn một mực khích lệ
nhóm thực hiện chương tŕnh chúng tôi - gồm Jo Marcel,
Trường Kỳ, Nam Lộc, Tùng Giang, Kỳ Phát, vv... - cứ việc "đường
ta , ta cứ đi". Không phải sợ cái ǵ hết ráo. Anh đă dùng tờ
tuần báo Diều Hâu của ḿnh để yểm trợ cho Đại Hội Nhạc Trẻ
Quốc Tế Hoa Lư mang mục đích cứu trợ gia đ́nh cô nhi, quả
phụ những chiến sĩ đă hy sinh hay mất tích trên chiến trường
Hạ Lào. Hàng trăm quân nhân thuộc các đơn vị chiến đấu đă
được gửi tới tăng cường an ninh cho buổi đại hội lịch sử này,
được đặt dưới sự chủ tọa của bà Nguyễn Văn Thiệu. Cuối cùng
Ngày Đại Hội Nhạc Trẻ Quốc Tế Ngoài Trời tại sân Hoa Lư đă
diễn ra suôn sẻ và đă trở thành buổi tŕnh diễn đáng ghi nhớ
nhất của phong trào nhạc trẻ Việt Nam. Và liên tiếp những
năm sau, cái duyên giữa nhạc trẻ và quân đội đă dính liền
qua những đại hội nhạc trẻ ngoài trời khác nằm trong mục
đích Yểm Trợ Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ mỗi khi Tết đến. Chưa kể
trước đó, cái duyên này đă được nhen nhúm với tướng Trần Văn
Trung từ năm 1968 trong đại hội nhạc trẻ tổ chức tại rạp
Thống Nhất, Sài G̣n.
Anh Phạm Huấn t́m gặp tôi tại vũ trường Ritz, trong thời
gian tôi đang thực hiện những chương tŕnh nhạc trẻ "Hippies
À GoGo" tại đây, trong khi Nam Lộc cũng đang tổ chức những
chương tŕnh "SoulParty" tại vũ trường Queen Bee. Anh cho
biết ư định của ḿnh là tổ chức một buổi đai hội nhạc trẻ
ngoài trời có tính cách quốc tế trong thời gian có rất nhiều
ban nhạc trẻ ngoại quốc như Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan,
Phi Luât Tân, Nam Dương, Đại Hàn, vv... phục vụ cho những
đơn vị quân đội đồng minh đang có mặt tại Việt Nam . Mặt
khác anh muốn tạo cơ hội cho những ban nhạc trẻ Việt Nam có
cơ hội tranh tài cùng những ban nhạc trẻ quốc tế khác. Nhưng
mục đích chính anh cho biết là dùng số tiền thu được để cứu
trợ cho gia đ́nh cô nhi, quả phụ những chiến sĩ đă hy sinh
trên chiến trường Hạ Lào. Trước mục đích mang nhiều ư nghĩa
đó, tôi đă cùng Nam Lộc và các bạn Jo Marcel, Tùng Giang,
vv...hội ư để cuối cùng đi đến quyết định chấp thuận lời đề
nghị của anh Phạm Huấn. V́ chính anh em chúng tôi cũng đang
có những ưu tư và cũng đang muốn kéo giới trẻ tham gia vào
các sinh hoạt có tính cách văn hoá truyền thống cũng như xă
hội, cộng đồng.
Từ đó trở đi, anh Phạm Huấn và Hà Huyền Chi thường xuyên đến
gặp chúng tôi, khi th́ ở Ritz, khi th́ tại căn pḥng được
coi như "trung tâm sinh hoạt nhạc trẻ" là căn pḥng trên
khách sạn Bồng Lai ( giữa pḥng trà Kim Sơn và nhà hàng
Thanh Thế ) của tôi, hoặc tại pḥng báo chí của Cục Tâm Lư
Chiến để bàn thảo về việc tổ chức. Địa điểm được ấn định là
sân vận động Hoa Lư , nơi có thể qui tụ hàng chục ngàn người
tham dự. Và ngày tổ chức sẽ là ngày 29 tháng 5 năm 1971, kéo
dài từ sáng đến chiều. Từ khi chúng tôi bắt tay vào việc th́
phong trào chống đối cũng bắt đầu nổi lên, đến từ sự tranh
chấp chính trị vào thời đó giữa ông Nguyễn Cao Kỳ và tổng
thống đương nhiệm Nguyễn Văn Thiệu cùng với nhiều tổ chức
thuộc phe đối lập.
Đó là chưa kể đến sự bất đồng ư kiến ngay trong nội bộ Cục
Tâm Lư Chiến, giữa hai nhóm có thể gọi là "cấp tiến" và "bảo
thủ". Tuy nhiên cuối cùng, anh Phạm Huấn cùng những người
ủng hộ anh đă thuyết phục được một số nhân vật thoạt đầu
không đồng ư việc tổ chức một buổi Đại Hội Nhạc Trẻ có tầm
vóc qui mô như vậy trong thời kỳ chiến tranh đang sôi động.
Nhưng việc chống đội từ bên ngoài đă khiến nhóm thực hiện
chương tŕnh chúng tôi lo ngại. Nhưng Phạm Huấn nhất quyết
không lùi bước và luôn yểm trợ tinh thần chúng tôi. Anh
không tỏ ra có ǵ lo lắng để hàng tuần vẫn đến gặp chúng tôi
vào ngày thứ năm để rủ đi... nhậu thịt dê tại cái quán nhỏ
xíu đối diện với ṭa đại sứ Cao Miên trên đường Phan Đ́nh
Phùng, góc Lê Văn Duyệt ( bây giờ là đường Nguyễn Đ́nh Chiểu,
góc Cách Mạng Tháng 8 ) do vợ chồng một ông bà cụ khai thác.
Kế hoạch đối phó với những chống đối được bàn luận ngay bên
cạnh những đĩa tái dê, dê nướng, vv...thơm phức. Thiếu tá
Phạm Huấn những lúc đó càng tỏ ra không một chút nao núng để
khuyến khích chúng tôi không nên chùn bước. "Sợ chó ǵ! Mính
làm th́ cứ làm chứ!" hoặc "Công việc ḿnh làm ư nghĩa như
vậy th́ sợ đếch thằng nào, mụ nào! Đứa nào có giỏi nhẩy ra
làm một công việc yểm trợ như vậy coi!". Đó là những câu
chúng tôi thường được nghe anh phát ngôn một cách rất hăng!
Nhưng càng gần đến ngày tổ chức th́ phong trào chống đối
càng nổi lên rầm rộ. Những bài báo công kích cũng xuất hiện
rất nhiều, trong số có loạt bài của linh mục Hoàng Yến, hội
trưởng Hội Bảo Vệ Luân Lư, đi trên nhật báo Xây Dựng vào
những ngày 9 và 10 tháng 5 năm 1971.
Trong đó, linh mục Hoàng Yến đă cố t́nh gọi đó là một Đại
Hội Hippy và tỏ ư lo ngại trước những tệ đoan do phong trào
này gây ra. Trong khi tên gọi chính thức là Ngày Nhạc Trẻ
Quốc Tế Ngoài Trời, yểm trợ cho chương tŕnh "Vành Khăn Sô"
dành cho gia đ́nh cô nhi, quả phụ những chiến sĩ Hạ Lào. Đối
mặt với những bài báo tương tự, Phạm Huấn chỉ cười khẩy để
đăng tải đều đặn những bài viết về chương tŕnh đại hội, về
mục đích cao đẹp của nó, cũng như luôn đề cao sự đóng góp
tích cực của các anh chị em nghệ sĩ thuộc phong trào nhạc
trẻ Việt Nam.
Tổ chức "Thanh Niên Trừ Gian" thuộc phe ông Nguyễn Cao Kỳ
cũng tỏ ra hoạt động rất tích cực bằng cách cho người đi…...xé
bỏ những posters của ngày đại hội!. Nhưng xé đến đâu lại
được dán đến đó do sự điều động của Phạm Huấn! Cùng một lúc
bà Ngô Bá Thành cũng dọa sẽ huy động một số lượng...ăn mày
tới trước cửa sân Hoa Lư để phá đám ngày đại hội. Chưa kể
một số hội đoàn thuộc phe đối lập đưa ra lời dọa dẫm sẽ có
biểu t́nh. Nhưng kết qủa sau cùng ra sao, hẳn ai cũng biết!
Riêng về mặt an ninh trật tự, Ngày Nhạc Trẻ Quốc Tế Ngoài
Trời 29 tháng 5 năm 1971 đă diễn ra hoàn toàn tốt đẹp do
tính kiên quyết và điều động chặt chẽ và khéo léo của Phạm
Huấn. Cũng nhờ đó mặt nghệ thuật của chương tŕnh đă được
ghi nhận là rất thành công trước gần 20 ngàn khán giả! Một "sự
cố" duy nhất: một khán giả trẻ đă lên cơn động kinh, có thể
v́ quá "hưng phấn "khi theo dơi chương tŕnh sống động của
Ngày Đại Hội Nhạc Trẻ Quốc Tế Ngoài Trời?
Tác giả Phạm Huấn của "Triệt Thoái Ban Mê Thuột" (và một số
tác phẩm có tính cách lịch sử khác ) nay đă thật sự triệt
thoái khỏi cuộc đời nhiều thăng trầm của anh sau khi rời Sài
G̣n vào tháng 4 năm 75. Khi ra hải ngoại, tôi được em ruột
anh là Phạm Long, một bạn thân và là một phóng viên tên tuổi,
cho biết có thời gian anh Phạm Huấn hành nghề lái taxi ở
Hawaii. Một thời gian sau anh về sống tại San Jose, và tôi
đă có dịp gặp lại anh cách đây đă hơn 10 năm ở thành phố này,
trong thời gian anh đang ở bên cạnh chị Hà. Và đúng là Phạm
Huấn có duyên với nhạc trẻ khi chị Hà chính là chị ruột của
Francoise Hằng, một trong những nữ ca sĩ đầu tiên của nhạc
trẻ Việt Nam. Hai anh em nghồi đấu láo trước đĩa bánh ngọt
và ly cà phê thay cho đĩa thịt dê và ly rượu nếp than và
cùng nhau nhắc nhở về những kỷ niệm liên quan tới Ngày Đại
Hội Nhạc Trẻ Ngoài Trời tại sân Hoa Lư ngày nào mà tưởng
chừng như mới diễn ra. Thật vui và thật cảm động.
Cách đây 6 năm, nhân dịp sang Orange County, nhờ nữ ca sĩ
Mai Hương - một người bạn thân của anh - cho số điện thoại
mới của anh ở San Jose, tôi đă gọi thăm anh và hẹn sẽ cố
gắng lên thăm anh. Nhưng đó là lần cuối cùng tôi nghe được
tiếng nói lúc đó vẫn c̣n sang sảng và vui vẻ của anh Phạm
Huấn.
Rồi ngày 21 tháng 10 năm 2005 vừa qua, tôi đột ngột nhận
được tin anh mới ĺa đời vài tiếng đồng hồ trước đó trong
một nhà an dưỡng ở San Jose. Buồn quá anh Huấn ơi! Anh đă "triệt
thoái" khỏi cuộc đời này thật rồi! Nhưng cũng mừng anh đă
không c̣n phải sống những ngày cuối cùng buồn thảm như vậy.
Cũng nhân dịp này tôi lại biết thêm một cái duyên khác của
Phạm Huấn với nhạc trẻ: nhân viên phụ trách hồ sơ cho nhà an
dưỡng này và là người thường xuyên thăm hỏi anh chính là tay
trống Hiệp San của một trong những ban nhạc trẻ đầu tiên của
Việt Nam là Les Faucons Noirs!
Nam Lộc cũng đă rất xúc động khi nghe tôi báo tin buồn này.
Lộc đă tỏ bầy tâm sự của ḿnh về anh Phạm Huấn như sau:"Một
trong những điểm quan trọng mà tôi học được ở nơi anh Phạm
Huấn là nghị lực và sự cứng rắn cần có từ tâm hồn đến thể
xác để sẵn sàng đối phó với mọi nghịch cảnh của cuộc đời.
Tôi c̣n nhớ vào những năm đầu của thập niên 1970, chúng tôi
đă gặp biết bao nhiêu là sự kỳ thị, khó khăn và chống đối
khi tổ chức những buổi Đại Hội Nhạc Trẻ ngoài trời, mặc dù
luôn mang những mục đích xă hội rất cao đẹp. Nếu không có sự
khuyến khích và hướng dẫn của Thiếu Tá Phạm Huấn cùng quư
anh trong Cục Tâm Lư Chiến VNCH thời bấy giờ, chắc chúng tôi
đă bỏ cuộc.
Sự thành công đó đă làm cho anh em chúng tôi cảm thấy tự tin
hơn. Và những yếu tố này chính là hành trang cần thiết để
chúng tôi bước vào đời với một tinh thần lạc quan và tích
cực.
Vĩnh biệt anh Phạm Huấn!"
Tôi cũng vậy, xin vĩnh biệt anh! Thành thật chia buồn cùng
chị Huấn, anh Phạm Hậu và các bạn Phạm Long, Phạm Hùng cùng
những người thân của anh...
TRƯỜNG KỲ
PHẠM HUẤN, NGƯỜI ĐI KHÔNG TRỞ LẠI
Mùa Thu năm 1954, Geneve chia đôi đất nước, có 4 anh em
nhà họ Phạm từ giă Hà Nội di cư vào Nam. Phạm Hậu, Phạm Huấn,
Phạm Long và Phạm Hùng. Mỗi người một tính nết, mỗi người
một con đường, mỗi người một định mệnh. Người anh cả là một
nhà thơ và là người lính nhảy dù. Người thứ nh́ vừa là lính,
vừa là phóng viên tiền tuyến. Những người em đều đi theo con
đường của các anh trong ngành báo chí.
Tháng 4-1975, họ Phạm lại di tản lần nữa bỏ lại sau lưng
thành phố Sài G̣n. Bốn anh em ở 4 phương trời Mỹ quốc, mỗi
người một đời sống, mỗi người một phần số.
Tháng 10-2005, sau 30 năm cách xa Sài G̣n, sau 50 năm cách
xa Hà nội. Họ Phạm về gặp nhau ở San Jose miền Bắc
California để tiễn đưa người anh thứ nh́. Phạm Huấn 69 tuổi,
người đi không trở lại.
Trong đêm tao ngộ giữa Phạm Huấn và bằng hữu, khi đă phát
tang và tẩm liệm xong, Kim Tước cất tiếng Ave với lời ca dẫn
người đi vào miền vĩnh cữu. Mai Hương khóc than tiễn bạn với
Ngàn năm mây bay. Bài ca xưa cũ cũng là tựa cuốn phim có vai
Phạm Huấn.
Trong số bốn anh em, biết bao nhiêu bạn bè đủ mọi lứa tuổi,
nhưng hoàn cảnh đưa đẩy Phạm Huấn có cơ hội gặp gỡ nhiều
bằng hữu trong các giới văn nghệ, báo chí, quân đội trước
75. Tất cả đều đến San Jose tiễn đưa Phạm Huấn khi gió thu
lạnh trở về với miền Bắc California.
Cuộc di cư 1954 đă đem từ Bắc vào Nam cả ngàn họ đạo, và các
nhân sĩ Bắc Hà để cùng miền Nam xây dựng hai nền Cộng Ḥa
suốt 21 năm dài.
Nhưng cuộc di cư cũng đem vào miền Nam những thiếu niên và
thiếu nữ sau này trở thành các tên tuổi trên truyền h́nh,
báo chí và phim ảnh ở miền Nam.
Cô bé Nguyễn Thị Chinh 16 tuổi đến Tân Sơn Nhất cô đơn một
ḿnh, mẹ mất sớm, cha kẹt lại ở Hà Nội. Sau này trở thành
Kiều Chinh, đệ nhất minh tinh của điện ảnh Việt Nam.
Cô bé Nguyễn Lệ Mai, 11 tuổi sau này trở thành ca sĩ Khánh
Ly, 40 năm làm kiếp ca nhi với cuộc đời trầm luân, tang
thương như một nước Việt buồn.
Và 1954, Hà Nội cũng bàn giao cho Sài G̣n một Phạm Huấn 17
tuổi sau này trở thành một sĩ quan phóng viên chiến tranh
chính trị đă có cơ hội sống lại một ngày ở Hà Nội vào năm
1973.
Cậu bé ra đi với hiệp định Geneve 54, trở về Hà Nội được một
ngày nhờ hiệp định Paris 73, và sau đó là chia tay vĩnh viễn
cả Sài G̣n lẫn Hà Nội.
Xuất thân Vơ Bị năm 1956, Phạm Huấn đă được huấn luyện để
trở thành một sĩ quan hiện dịch và con đường binh nghiệp
được đào tạo để sẵn sàng trở thành cấp chỉ huy trong một
quân đội trẻ trung đang phát triển.
Tuy nhiên, định mệnh đă đưa ông qua ngành chiến tranh chính
trị nên dù sau này lên đến cấp thiếu tá, ông vẫn thủy chung
là một phóng viên tiền tuyến.
Năm 1971 với nhiệm vụ phóng viên, Phạm Huấn có dịp theo sát
trận Hạ Lào. Các điều mắt thấy tai nghe trên chiến trường
Quân khu I đă làm thành tác phẩm để 19 năm sau xuất bản tại
San Jose.
Những ngày cuối của tháng 4-1975, thiếu tá Phạm Huấn làm tùy
viên báo chí cho tướng Phạm Văn Phú, tư lệnh quân đoàn 2 nên
đă chứng kiến những giây phút lịch sử của quyết định Cam
Ranh của cuộc rút quan bi thảm làm xụp đổ cả miền Nam. Những
kư ức đau thương của người phóng viên quân đội đă tạo dựng
thành hai tác phẩm. Cuộc Triệt Phái Cao Nguyên xuất bản 1987
và Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước xuất bản 1988.
Tất cả các tác phẩm của ông đều in trên khổ lớn, b́a cứng
tại San Jose là nơi ông đă sống những giờ phút sau cùng.
Năm 2005, chuyến đi không trở lại của ông dù có chút trăn
trở khó khăn nhưng vẫn được coi là đă có chuẩn bị chu đáo.
Ngay từ năm 2003, em út của gia đ́nh là Phạm Hùng đă thu xếp
công việc từ các quốc gia Á Châu để trở về săn sóc người anh
và đồng thời cũng là người bạn thân thiết Phạm Huấn. Anh em
đă có nhiều cơ hội gần gũi nhau và người em hiểu rơ bệnh
t́nh và hoàn cảnh của anh rất nhiều.
Đối mặt với định mệnh như các chiến binh trực diện với chiến
trường, anh em đă đi quan sát các dưỡng đường có bệnh nhân
nằm bất động và được nuôi bằng các phương tiện y khoa với
các ống nối chằng chịt.
Bác Huấn đă di chúc chính thức lại cho chú Hùng là nếu gặp
cảnh này th́ giao cho em toàn quyền dứt điểm để anh đi. Dứt
khoát anh không muốn sống bằng thực phẩm qua ống dẫn vào
thực quản. Anh không muốn thở qua ống dẫn vào khí quản. Anh
không muốn thấy h́nh ảnh những người thân yêu mờ dần trong
năo trạng. Khi cơ thể từ chối vận hành là em để anh đi. Giấy
tờ hợp lệ được ủy nhiệm chính thức. Phải nhờ chú em lấy
quyết định thay cho cả vợ con và thân quyến. Cứ như là lệnh
hành quân đă làm sẵn có ngày D và giờ H. Phạm Hùng đă thi
hành hết sức chặt chẽ và chu đáo.
Anh Huấn đă chết trong tay em trai út dù rằng vào một buổi
chiều kẹt xe trên xa lộ 680 khi Phạm Hùng được tin báo đă
quay đầu xe trở lại kịp thời.
Đă tính toán để báo tin cho thân quyến bằng hữu bốn phương.
Anh em và bè bạn đă lần lượt vào ăn với nhau những miếng cơm
cuối cùng, những ly rượu đỏ thấm trên môi người bệnh. Những
ánh mắt thay nụ cười.
Đầu năm 2005, tôi có dịp vào thăm Phạm Huấn. Tuy đi lại khó
khăn nhưng đầu óc anh vẫn c̣n sáng suốt. Chúng tôi có nói
chuyện về dự án bảo tàng viện của VNCH. Vốn tính bông đùa cố
hữu tôi đă nói những lời tự làm giảm tính cách quan trọng
của dự án. Phạm Huấn đă hơi trách cứ. Anh nói rằng chuyện
ông làm là việc lớn, xin đừng coi thường, cứ xin hết sức để
anh em giữ măi tấm ḷng quư trọng ông.
Tôi ra về mà cứ áy náy măi về lời Phạm Huấn nói rất chân
thành và cảm động.
Thứ Sáu 14 tháng 10-2005, tôi lại có dịp dẫn Phạm Huy Sảnh
từ Seattle xuống San Jose với tư cách bạn nhảy dù Sài G̣n
vào thăm Phạm Huấn. Anh nằm trên giường, đă yếu lắm rồi,
nhưng vẫn c̣n nhận ra chúng tôi. Phạm Huy Sảnh nhắc đến các
kỷ niệm xưa, nhắc đến cả Vũ Thế Quang gửi lời hỏi thăm.
Khi chúng tôi ra về, Phạm Huấn nằm ngó theo. Mắt long lanh,
chậm chạp giơ tay chào. Bàn tay gầy guộc treo trên mi mắt.
Chúng tôi giật ḿnh dừng lại chào đáp lễ.
H́nh ảnh người chiến binh 30 năm trước nằm trên giường.
Chung quanh là các tờ giấy lưu ư của Nursing Home báo tin
bệnh nhân đang ở vào giai đoạn cuối của cuộc đời. Tất cả đều
rơ ràng, công khai minh bạch. Dù biết như vậy, nhưng chúng
tôi cũng không thể nghĩ rằng đây là cái chào tay cuối cùng
của thiếu tá Phạm Huấn.
Rơ ràng là vào buổi trưa 14 tháng 10-2005, hồn lính đă trở
về với Phạm Huấn trọn vẹn ân t́nh bằng một cái chào tay.
Tháng 10-2005 ở San Jose tập thể chiến binh Cộng Ḥa về họp
mặt. Phải mà quân đội họp mặt đại hội 30 năm trước ở Sài G̣n
th́ đă có phóng viên Phạm Huấn đi một bài tường thuật.
Những người khách của San Jose đến tham dự Nghị Hội lần thứ
19 đă ra về. Những cựu chiến binh VNCH đến San Jose dự đại
hội lần thứ I cũng đă chia tay lên đường.
Và khi Phạm Huấn đă vĩnh viễn xa rời San Jose vào ngày thứ
Sáu th́ những người khách bốn phương của anh lại bắt đầu kéo
đến. Các học sinh Chu Văn An, các chiến binh nhảy dù, các
phóng viên tiền tuyến, các văn nghệ sĩ. Trong t́nh bằng hữu
với chút duyên văn nghệ khách phương xa, đến với người ra đi
lần cuối và cũng là dịp hội ngộ hăn hữu với các cố tri ngày
xưa vẫn c̣n lại đến ngày nay.
Đầy đủ, vắng dần, hay thưa thớt. Rồi ai cũng đến lượt ḿnh.
Nhưng quả thực lần ra đi của Phạm Huấn đă có sự chuẩn bị,
đối mặt, b́nh thản. Rồi th́ cũng như mọi người, ai cũng sẽ
cam chịu, khuất phục với định mệnh một lần cuối cùng.
Ngày xưa đă có những vần thơ tứ tuyệt:
Vần thơ giải thích các hiện tượng trong trời đất và thân
phận con người.
Cái ǵ hợp rồi cũng tan.
Dù xa Hà Nội cũng c̣n trở lại một ngày. Dù xa Sài G̣n cũng
c̣n trở lại. Nhưng đi xa San Jose lần này, thiếu tá Phạm
Huấn thân xác nhẹ tênh, sớm phiêu diêu miền vĩnh cữu. Sẽ
chẳng bao giờ trở lại. Bởi v́ ở đất San Jose b́nh yên này sẽ
chẳng có trận đánh nào để cho người phóng viên chiến trường
viết bài tường thuật.
Vào tháng 4-2005 vừa qua, Phạm Hùng, người em út tha hương
của họ Phạm đă tổ chức buổi ra mắt sách rất đặc biệt trong
Nursing Home ở Tully San Jose. Những bài thơ Hà Nội của
Hoàng Anh Tuấn lần đầu in thành tuyển tập.
Hoàng Anh Tuấn và Phạm Huấn là đôi bạn văn nghệ Sài G̣n và
bây giờ là hàng xóm láng giềng trong cùng một dưỡng đường.
Lần đầu tiên các bằng hữu văn nghệ gặp nhau trong một khung
cảnh lạ lùng như thế. Mối duyên đồng hương kéo dài từ Hà Nội
ố Sài G̣n đêẩ đến tận San Jose.
Bây giờ Huấn đă ra đi, Hoàng Anh Tuấn nh́n ra ngoài song cửa,
chẳng thấy mưa Sài G̣n mưa Hà Nội. Chỉ c̣n chờ đợi những
trận mưa San Jose đến muộn. Đă gần Thanksgiving mà sao chưa
thấy ướt mặt đường.
* * *
Con người dù sống đơn độc hay quảng giao với bằng hữu bốn
phương th́ so với ḍng thời gian vĩnh cữu cũng chỉ là đoản
kỳ ngắn hạn. Nhưng các tác phẩm của Phạm Huấn viết về chiến
tranh sẽ ở lại lâu dài hơn. Là một phóng viên yêu quê hương,
yêu quân đội, tác giả đă trải tấm ḷng trong tác phẩm.
Dù rằng phải viết về toàn những cay đắng uất nghẹn của những
lần đau thương trận đánh đường số 9 Hạ Lào 1971, cuộc rút
lui ở cao nguyên trên quốc lộ số 15 hoang vắng và sau cùng
là những trận chiến mất nước 1975 trên quốc lộ 1. Ba tác
phẩm ra đời vào cuối thập niên 80, lúc đó các chiến binh
huynh đệ tù cải tạo chưa đặt chân đến Hoa Kỳ. Các tin tức
hành quân ngày cũ chưa được mở rộng như hôm nay, Phạm Huấn
đă mở đường soi sáng lịch sử, dù là những trang sử đau
thương của người lính Cộng Ḥa.
Những cuối sách của anh lần lượt gửi cho chúng tôi với lời
lẽ chân t́nh ngay từ lúc mới xuất bản 1987, 1988 và 1990.
Tương lai của các tác phẩm của Phạm Huấn sẽ nằm trong thư
viện của Bảo Tàng Viện VNCH tại San Jose cùng với bức h́nh
của anh trong trận Hạ Lào 1971.
Đó là món quà kỷ niệm của phóng viên chiến trường Phạm Huấn
gửi gấm cho thế hệ tương lai.
Giao Chỉ - San Jose 2005
|
Thiếu
Tá Phạm Huấn Saturday, November 05, 2005 |
|
|
Tưởng niệm của Nguyễn Đạt Thịnh
Tôi sống rất gần và rất lâu với Phạm Huấn; sống trong quân ngũ, sống trên chiến trường, trên trường văn trận bút, và cả trên bờ biển Hawaii thơ mộng nữa. Tôi có thể viết về Huấn như nhắc nhở đến một người bạn thân, nhưng tôi chọn góc cạnh quân ngũ để viết về anh. Đó là góc cạnh tôi biết anh rơ nhất, và, theo quan điểm của tôi, đó cũng là góc cạnh đẹp nhất của anh. Trong hệ thống quân sự, Huấn là sĩ quan phụ tá giúp tôi thực hiện việc biên tập hai tờ báo của quân đội, tờ Tiền Phong, dành cho sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Ḥa, và tờ Chiến Sĩ Cộng Ḥa, dành cho binh sĩ. Tôi là chủ bút và Huấn giúp tôi trong mọi địa hạt biên tập, nhưng trên thực tế cả hai chúng tôi là 2 phóng viên chiến trường. Thời gian chúng tôi có mặt ngoài tiền tuyến, bên các đơn vị đụng trận với địch, nhiều hơn thời gian chúng tôi ngồi ở văn pḥng. Đa số những bài phóng sự mô tả các trận giao tranh, chúng tôi viết trên những chuyến bay C47, C119, hay C130 chuyên chở thương binh về hậu cứ hay đưa thi hài tử sĩ về nguyên quán. “Chúng ḿnh thấy nhiều người chết trận hơn đa số anh em quân nhân khác,” Huấn thường nói với tôi. Điều này cũng dễ hiểu: Mỗi đơn vị trưởng chỉ nh́n thấy số tử sĩ của đơn vị ḿnh và số tử thi của địch bị sát hại trước hàng rào pḥng thủ hay trong trận giao tranh với đơn vị. Huấn và tôi thấy nhiều trận giao tranh của nhiều đơn vị, mà trận Lam Sơn 719 là một. Lam Sơn 719 là một trong những trận giao tranh lớn mà hai anh em chúng tôi có nhiều kỷ niệm. Đây là trận quân ta hành quân sang Hạ Lào. Huấn theo cánh quân của Sư Đoàn 1 Bộ Binh tiến trên đường số 9 để vào Tchepone, căn cứ chỉ huy tiếp vận của địch; tôi theo cánh quân của Sư Đoàn Nhảy Dù xuất phát từ Khe Sanh. Lam Sơn 719 là cuộc hành quân đầu tiên do QLVNCH hoàn toàn thực hiện, từ thảo hoạch chiến thuật tới yểm trợ hành quân, từ kế hoạch “khóa ṿi nước” Bắc Việt không cho chúng đưa quân vào tăng viện cho bọn Việt Cộng trong Nam, tới mục tiêu cắt đứt hệ thống đường ṃn Hồ Chí Minh, đặt các toán biệt kích mai phục, ngăn cấm không cho địch sử dụng con đường tiếp vận quan trọng này nữa. Nhưng v́ LS 719 là cuộc hành quân độc lập đầu tiên của QLVNCH không phối hợp với Mỹ nữa nên anh đồng minh khổng lồ của chúng ta cũng giả ngơ để chúng ta tự lực cánh sinh, với những phương tiện trợ chiến và tiếp vận bằng không lực c̣n rất yếu kém của chúng ta. Từ Saigon ra, chúng tôi đáp tại phi trường Phú Bài. Trong lúc các tiểu đoàn trưởng tổng trừ bị kiểm điểm quân số, vũ khí và trang cụ của đơn vị, Huấn lại t́m tôi. “Anh nghe đài Hà Nội chưa?” Huấn hỏi tôi, rồi mở cái máy thu thanh nhỏ anh vừa mượn của một quân nhân nhảy dù cho tôi nghe: Hà Nội đang chỉ trích VNCH đem quân sang “xâm chiếm” Vương Quốc Ai Lao. Chúng tôi lo lắng, v́ địa điểm hành quân là một yếu tố mật, chính chúng tôi và các tiểu đoàn trưởng tham dự hành quân cũng vẫn chưa được thông báo, mà Hà Nội đă biết rồi. Bí mật đă bị tiết lộ. Nhưng ai bật mí? Chúng tôi không biết; nhưng chắc chắn từ trung tướng Dư Quốc Đống tư lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù trở xuống không một quân nhân nào phản trắc, hoặc có hoàn cảnh và điều kiện để làm công việc thông đồng với địch, phản quốc. Chỉ có bộ Tổng Tham Mưu, Dinh Độc Lập, và Ṭa Đại Sứ Mỹ có điều kiện để thông báo cho địch. Không biết nguồn gốc phản phúc, nhưng chúng tôi biết chắc chắn một điều: Địch đă biết trước, và biết rơ hơn chúng tôi biết về cuộc hành quân chúng tôi đang tham dự, đă bố trí, và các đơn vị QLVNCH sẽ phải trả một giá rất đắt. Điều chúng tôi lo sợ trở thành sự thật; đồi 31, căn cứ Hồng Hà 2, quốc lộ 9 trở thành những trận địa pháo Việt Cộng chờ sẵn. Trời Hạ Lào xấu, nhiều trần mây chạm đỉnh đồi, không quân Việt Nam chỉ có khả năng trợ chiến trực tiếp: Tấn công vào những mục tiêu nh́n thấy được bằng mắt thường, nhưng không có dụng cụ đánh đêm, mà cũng chưa được huấn luyện để yểm trợ tác chiến bằng phi cụ, nên gần như không giúp đỡ ǵ được cho người bạn bộ binh bên dưới đang lọt vào phục kích và trận địa pháo của địch.
Không yểm Hoa Kỳ = 0 T́nh thế nguy hiểm thấy rơ, tôi chia công việc với Huấn: Anh ở lại theo dơi Hạ Lào, tôi trở về Saigon hy vọng t́m một lối thoát, giúp tái lập không yểm Hoa Kỳ. Lối thoát là nghị sĩ Trần Văn Hương, người đă nhiều lần yểm trợ chúng tôi trong những chương tŕnh giúp đỡ cô nhi quả phụ. Không lùi bước trước bất cứ khó khăn nào để giúp người lính tác chiến, nhà ái quốc trọng tuổi Trần Văn Hương đứng ra triệu tập một cuộc họp báo, tố cáo thái độ không trợ chiến của không quân Hoa Kỳ. Ngay ngày hôm sau không yểm được tái lập. Huấn vào Tchepone với Trung Đoàn 1 Bộ Binh, chứng kiến tổn thất khiếp đảm của những đơn vị tham chiến và trở về Saigon với kế hoạch “Đại Hội Nhạc Trẻ Sân Hoa Lư.” Anh gởi thơ mời những người lính trẻ Hoa Kỳ thích đàn hát tham dự chương tŕnh nhạc sống ngoài trời, bán vé lấy tiền để giúp cô nhi, quả phụ Hạ Lào. Số tiền thâu được gần 3 triệu bạc trong thời điểm lương sĩ quan trung cấp của chúng tôi chỉ trên dưới $40,000. Huấn trao số tiền này cho bộ tư lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù. TUẦN BÁO DIỀU HÂU là tờ báo thứ ba chúng tôi làm trong cùng một lúc. Hai tờ báo chính thức của quân đội chúng tôi phụ trách không giúp chúng tôi nêu lên những vấn đề thiết thực của quân đội, và không nói lên tiếng nói uất nghẹn của người lính VNCH. Một thí dụ: Chúng tôi không thể tố cáo trên mặt tờ báo chính thức của quân đội t́nh trạng người lính không được mua đủ khẩu phần quân tiếp vụ của họ, v́ nhiều lon dầu ăn, lon paté gan của quân tiếp vụ bị nhẩy dù ra khỏi kho, và đem bầy bán trên lề đường Saigon. Chúng tôi lại càng không thể đề cập đến nhiều hành động tham nhũng của hàng tướng lănh Việt Nam. Huấn bàn với tôi việc xuất bản tờ tuần báo Diều Hâu như tiếng nói trung thực của người lính. Hai anh em rốc túi được trên $100,000, và đó là số vốn đầu tư mua được cho chúng tôi nhiều phút tranh đấu hào hứng đến đứng tim. Chúng tôi giúp anh em quân nhân giải quyết nhiều bất công thông thường, nhưng lại đứng khựng trước một vụ tham nhũng khổng lồ, lạm dụng quá đáng và vô cùng quy mô: Vụ quỹ Tương Trợ Tiết Kiệm (TTTK). Quỹ TTTK trực tiếp trừ lương mỗi người lính $100 mỗi tháng, một triệu lính $100 triệu; mỗi năm 1 tỷ 2. Lương tháng của chúng tôi khoảng $40,000-400 tờ giấy trăm. Số tiền mang chất tiền lính, tính liền, nên có thiếu một tờ cũng không để ư lắm, nó chỉ bằng một quarter bây giờ. Nhưng 4 năm sau, khi số tiền tiết kiệm lên đến 5 tỉ bạc, th́ nó đủ lớn để làm tối mắt nhiều viên chức chính phủ và tướng lănh quân đội. Họ lập Kỹ Thương Ngân Hàng, tài trợ cho hai giới kỹ nghệ gia và thương gia trong công việc doanh thương, họ mua hăng RMK của Mỹ để làm xa lộ, làm đường sá, họ mua công ty Cogido để làm giấy in sách báo, họ dự trù khui giếng dầu Hồng Hà 2 ngoài thềm lục địa Việt Nam, và làm nhiều dự án vô cùng lớn lao khác nữa. “Tiền tiết kiệm của lính, mà mọi người xúm lại sử dụng vung vít quá,” Huấn bảo tôi. Anh viết bài đặt vấn đề quản trị và trách nhiệm về tài sản tiết kiệm của lính. Trung tướng Đồng Văn Khuyên, một viên chức trong hội đồng quản trị quỹ TTTK, viết bài trả lời chúng tôi. Ông hỏi chúng tôi những việc làm xa lộ, khui giếng dầu, sản xuất giấy để in sách báo không phải là phục vụ cho nền kinh tế quốc gia hay sao. Chúng tôi đăng nguyên văn thơ và chân dung ông lên báo, rồi viết trả lời ông là tất cả những việc quỹ TTTK làm đều đúng, trừ một điều: Sử dụng số tiền tiết kiệm của chúng tôi. Chúng tôi là trái chủ của trương mục TTTK này, và chúng tôi, người lính VNCH, phải có ưu tiên vay mượn trước mọi người khác. Vay mượn để làm ǵ? Chúng tôi vạch rơ t́nh trạng mỗi người lính, với số lương c̣m cơi, phải đài thọ việc nuôi dưỡng một đại gia đ́nh gồm 5, 7 người thân nhân đến tá túc trong trại gia binh, chung sống với gia đ́nh người lính, v́ t́nh trạng thiếu an ninh tại nông thôn. Do đó số nhân lực thặng dư, cần việc làm trong trại gia binh rất nhiều, và sẽ trở thành đắc dụng nếu quân đội có kế hoạch sử dụng họ và sử dụng số tiền tiết kiệm của những người lính thân nhân họ, cho lính vay lại số tiền tiết kiệm. Huấn và tôi lấy Sư Đoàn 18 ra làm điển h́nh để cụ thể thảo luận với hội đồng quản trị quỹ TTTK trên mặt báo Diều Hâu. Sư Đoàn đóng tại Long Khánh vùng đất đỏ mầu mỡ rất tốt cho việc làm rẫy trồng đậu nành. Nếu sư đoàn tổ chức hợp tác xă dầu ăn, mua máy cày về cầy mướn cho những người lính thành viên hợp tác xă, và cho họ mượn vốn mua hột đậu nành giống, mua phân, mua máy bơm nước để khai thác một hai mẫu đậu nành cấp cho họ th́ hợp tác xă đă sử dụng hai phần ba số bà con lính sống thất nghiệp trong trại gia binh, và với tối thiểu 5,000 thành viên, trong số 10,000 quân nhân của sư đoàn, mỗi mùa hợp tác xă đă có thể mua lại hoa mầu của 10,000 mẫu đậu nành, số lượng có thể ép thành hàng chục triệu lít dầu ăn. Lúc đó khẩu phần quân tiếp vụ của binh sĩ là mỗi gia đ́nh được mua 2 lít dầu mỗi tháng. Hợp tác xă sư đoàn 18 không những có khả năng hủy bỏ giới hạn mua dầu ăn, mà c̣n có khả năng cung cấp thêm cho thị trường bên ngoài. Máy ép dầu? Kỹ sư dầu ăn? Mua dụng cụ và mướn người ngoại quốc nếu chúng ta chưa có đủ chuyên viên. Chúng tôi chọn thêm hai sư đoàn 5 và 25 để thảo luận về việc sản xuất một nhu yếu phẩm khác: Đường. Hai sư đoàn này đóng ở Củ Chi và Đức Ḥa, vùng trồng mía. Chúng tôi cũng đề nghị sử dụng nhân công thân nhân binh sĩ, sử dụng vốn trong quỹ TTTK để tạo ra hợp tác xă sản xuất đường. Hội đồng quản trị quỹ TTTK đang thảo luận với tuần báo Diều Hâu th́ bên trong nội bộ của hội đồng tiết lộ ra nhiều tài liệu tố giác tham nhũng trong việc điều hành quỹ. Cuộc thảo luận về nguyên tắc sử dụng đứng đắn đồng tiền tiết kiệm của người lính biến thành cuộc điều tra của Phủ Phó Tổng Thống đặc trách bài trừ tham nhũng. Trung tướng Nguyễn Văn Vỹ, tổng trưởng quốc pḥng và chủ tịch quỹ TTTK bị cất chức, và quỹ bị giải tán. Mỗi người lính chúng tôi được lănh lại 60 tờ giấy trăm, một số tiền khác cũng mang tính chất tiền lính để bị tính liền trong một bữa ăn cuối tuần. Trong cuộc đấu tranh này tôi nhận ra được bản tính vô cùng can đảm của Huấn trong nhiều đụng chạm với những quân nhân cao cấp và nhiều quyền hạn. Tôi ca ngợi Huấn, anh chỉ cười dễ dăi, rồi huyệch hoạc bảo tôi, “mó dế ngựa, tôi cũng teo lắm.” Kỷ niệm buồn thấm thía giữa Huấn và tôi, mà cả hai chúng tôi cùng không dám nhắc lại là ly rượu chúng tôi uống trong một buổi chiều sơn cước. Sáng hôm đó tôi theo trung đoàn 45 từ đèo Hàm Rồng về Ban Mê Thuột chứng kiến cảnh Đại tá Quang đưa quân về tiếp cứu trung tá Ân đang tử thủ tại phi trường Phụng Dực. Tôi chứng kiến sức chiến đấu can trường và dũng mănh của người lính bộ binh chống với đoàn chiến xa của Việt Cộng. Chiều hôm đó tôi trở về Pleiku; Huấn đón tôi tại sân trực thăng Quân Đoàn 2. Anh không c̣n là một phóng viên như tôi nữa, mà đă trở thành sĩ quan báo chí của Quân Đoàn. Anh không chở tôi vào bộ Tư Lệnh để tiếp tục làm việc với những tin tức cuối cùng của Pḥng Nh́ và Trung Tâm Hành Quân, mà cũng không đưa tôi về cư xá sĩ quan cho tôi nghỉ ngơi trước bữa cơm chiều, mà lái xe thẳng ra phố. Chúng tôi vào một tiệm cơm Tây của Pleiku do một cập vợ chồng Tây thật làm chủ. Huấn gọi hai ly rượu mạnh. Ông Tây già bưng rượu và một dĩa thịt nguội nhỏ ra bảo chúng tôi, “amuse gueul,” (món vui miệng). Thường khi chúng tôi cũng xổ tiếng Tây ra đấu với ông, nhưng lần này Huấn chỉ “merci” một tiếng rồi cụng ly với tôi. Nh́n gương mặt lầm ĺ của Huấn tôi hỏi, “t́nh h́nh tệ lắm hả?” “Lát Thiếu Tướng Phú sẽ nói chuyện với anh,” Huấn nói. Nửa đêm hôm đó quân đội VNCH bỏ cao nguyên, với nhiều uẩn khúc Huấn, tôi và nhiều người khác đă viết lại. Cuộc triệt thoái này đưa người Miền Nam đến chỗ mất nước. Tôi gặp lại Huấn tại San Jose, làm chủ một tiệm cơm Tây lớn hơn nhà hàng chúng tôi ăn lần chót tại Pleiku, và chị Hà, bà xă Huấn, nướng steak cũng ngon hơn ông Tây già Pleiku. Huấn rót cho tôi một ly Cordon Bleu, thứ rượu chúng tôi uống tại Pleiku chiều cuối cùng. Tôi uống cạn, không nh́n Huấn. Huấn ra đi ngày 29, tháng Mười, 2005. Tôi đến thăm Huấn nhiều lần trong những ngày anh dưỡng bệnh và chứng kiến sự chăm sóc chan chứa yêu thương của chị Hà bên giường bệnh. Với tư cách một quân nhân, tôi ngả nón kính phục những nỗ lực tối đa của anh trên đường phục vụ tổ quốc. Nguyễn Đạt Thịnh |