Ngưó Lính vẫn Sống Sau Trận Lưă
Phan Nhật Nam
Kết thúc với Tháng Tư,
Sự Chết hiện thực sắc nét, có h́nh khối, với âm động, mùi vị riêng biệt của Sài
G̣n. Với Sài G̣n. Cảnh Chết bắt đầu trùm chiếc cánh tối tăm hung hiểm lúc 6 giờ
15 chiều ngày 28 tháng 4, khi chuỗi bom dưới cánh những chiếc A37 do viên phi
công phản trắc Nguyễn Thành Trung hướng dẫn rơi nhanh xuống phi đạo Tân Sơn Nhất.
Đạn pḥng không bắn lên, phi cơ F5 đuổi theo muộn màng, vô vọng. Cửa ngỏ tháo
chạy của Sài G̣n đóng sập lại. Cuối cùng, Tân Sơn Nhất thật sự vùng vẫy, hấp hối,
ch́m dần trong lửa hoả ngục khi dàn đại pháo, hỏa tiễn cộng sản từ Đồng Dù, Củ
Chi, ranh giới Hậu Nghĩa, Gia Định bắt đầu đỗ xuống không ngắt nhịp.. Từng trái
đạn 130 ly, từng hỏa tiễn 122 ly chính xác bay đến các mục tiêu đă được phái
đoàn cộng sản trong Ban Liên Hợp Quân Sự điều nghiên kỹ từ 28 tháng 1, 1973. Tân
Sơn Nhất vật vă, co quắp, ră chết, sụp vỡ, hấp hối trong khói đen, lửa ngọn.
Cuộc hành h́nh kéo dài từ 4 giờ sáng ngày 29 tiếp tục đến rạng đông. Ở căn cứ
DAO (Văn pḥng Tùy Viên Quân Lực Mỹ), ba ngàn người tỵ nạn chờ đợi di tản bằng
C130, hoặc C141 qua Guam đưa mắt nh́n lên trời, giữa vũng lửa, đếm rơ từng viên
đạn pháo rơi xuống.. Đống hành lư khổng lồ gồm quư kim, vàng, kim cương, giấy
bạc “Năm Trăm Trần Hưng Đạo” của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam; giấy bạc Đô-la của
ngân khố Mỹ.. tất cả cùng trộn lẫn với thịt da, thân thể người thành một thứ
pháo bông tan tác bay tung toé dưới ánh lửa bập bùng loang lỗ của kho xăng, đài
kiểm báo, trại gia binh, nơi để máy bay.. hiện thực đầy đủ cảnh địa ngục vô vàn
nơi trần thế - giữa Tân Sơn Nhất – Cửa ngỏ thoát hiểm của Sài G̣n hoàn tất đóng
chặt.
Những viên tướng đă ra đi, những sĩ quan cấp tá cũng rời bỏ nhiệm sở, đơn vị,
nhưng, Trung Úy Phi Công Nguyễn Văn Thành c̣n lại. Thành (có biệt hiệu "Thành
Mọi" bởi nước da ngâm đen quá độ) ra chỗ đậu tàu, anh nỗ máy chiếc C119 Hỏa
Long, đơn độc bay lên trời xanh bảo vệ, cứu viện Tân Sơn Nhất. Từ trên cao, thấy
rơ những vị trí pháo của binh đội cộng sản.. Thành nghiêng cánh, chúc mũi chiếc
Hỏa Long căm phẫn trút xuống tràng đạn 7.62 ly, và tất cả hỏa lực cơ hữu của hai
khẩu đại bác 20 ly gắn dưới cánh.. Hóa ra cả một quốc gia chỉ c̣n được lần cứu
viện bi hùng tuyệt vọng nầy. Phải chỉ một ḿnh anh - Trung úy Nguyễn Văn Thành,
"Thành Mọi - Thành Thiếu Sinh Quân". Thành hạ thấp hơn để đường đạn thêm phần
chính xác. Thân tàu rung mạnh.. Lửa! Lửa! Lửa cháy ngang cánh trái con tàu, ngay
b́nh xăng, sát cạnh ghế ngồi.. Thành giật mạnh chốt thoát hiểm để bung thân ra
khỏi con tàu. Tất cả kẹt cứng. Anh dùng tay đẩy cửa buồng lái phóng ḿnh ra,
chiếc dù bung mạnh.. Các múi, giây dù vướng vít rối rắm. Thành bị giữ chặt bởi
chiếc dù và khung cửa. Lửa bừng bừng! Lửa ào ạt.. Người phi công ch́m trong lửa,
gục chết giữa không gian.
Tiếng đập đục rầm rập từ những cơ sở ngoại quốc, những khối cửa sắt lay động,
phá bung, những tấm kiếng tủ lớn bị đập vỡ, đồ đạt kéo lê hỗn độn, vội vàng trên
mặt đường. Người mỗi lúc mỗi đông. Người dồn dập ùn ùn, la ó, chưởi thề, giành
giựt. Đám đông chạy về phía Building Brink, khu Đồn Đất, nhà thương Grall, nơi
có cơ sở Mỹ kiều, những văn pḥng mà chủ nhân đă bỏ đi. Bất chợt, tất cả lắng
lại để nghe rất rơ... Có người tự tử. Có người mới bắn chết. Ai? Lính, không
biết, chỉ thấy mặc đồ lính ḿnh. Ở đâu? Ở ngoài, chỗ tượng Thủy quân lục chiến..
Lời trao đổi đứt khúc, vội vă, mất hút giữa những tiếng thở dồn dập, bước chân
cuống cuồng nôn nóng của đám đông đang hăm hở tiến tới những kho hàng, cơ sở đầy
ắp vật dụng quí giá, thức ăn đắt tiền. Anh cũng nhập vào đám đông xô đẩy đó
trong giờ phút vỡ toang mối nối thời - không với những động tác, việc làm bất
định, bất ngờ, vô nghĩa, vô ích. Anh kiểm soát lại số phim đang c̣n trong máy,
trong túi, đi băng qua lối ngang trong thương xá, ra ngơ quán Thanh Vị, quẹo
phải, men theo hàng hiên tiệm kem Đô Chính. Súng nổ.. Súng Aka và những bóng
người chạy lúp xúp vào cổng Ṭa Đô Chính. Anh tiếp tục làm “nhiệm vụ”, đưa máy
h́nh lên.. Động tác quen thuộc, thuần thục từ bao năm, anh và các bạn, những
phóng viên chiến trường của báo chí miền Nam hằng thực hiện nơi những chốn sự
chết, lửa đạn vây bủa. Đồng một lúc anh chợt nhói đau - Đây là lần cuối cùng.
Đây là giờ cuối cùng. H́nh như một nhân vật trong Doctor Zhivago cũng đă kêu lên
như thế. Anh chỉ nhớ loáng thoáng bởi đang có cảm giác người cạn ly rượu hành
quyết trước khi bị bịt mắt, dẫn đi bắn. Anh chạy theo đám lính cộng sản với hai
thanh niên cầm cờ đỏ. Thật ra chỉ là một mẫu vải màu đỏ. Loại hàng may áo dài.
Thoáng rất ngắn, anh ngừng lại, liếc về phía khối tượng đài Thủy Quân Lục Chiến,
nơi có Người Lính vừa chết. Anh cúi gập người, nôn khan. Buổi Sáng 30 tháng Tư,
1975. Chen giữa âm sắc xích xe tăng đổ nhào cửa Dinh Độc Lập có tiếng nổ khô nhỏ
của viên đạn ghim vào, nằm sâu trong đầu Trung Tá Cảnh Sát Quốc Gia Nguyễn Văn
Long.
Anh lên yên, nhấn mạnh bàn đạp, động tác bàn chân quay ṿng không chủ đích. Xe
đi dọc đường Lê Văn Duyệt, qua Chợ Đũi, nơi các bạn anh hôm qua (nay đă trở
thành xưa cũ) hằng vui vầy, sống động.. Định rẽ vào Yên Đỗ về Phú Nhuận, nhưng
không hiểu từ đâu thúc dục, anh đạp dài theo Lê Văn Duyệt giữa gịng âm động dồn
dập như Sài G̣n đang hồi tẫm liệm với nhịp chày vồ dộng mạnh xuống trăm, ngàn
quan tài của những người vừa chết. Giă từ Trần Công Hạnh, Tiểu Đoàn 2 trước trại
Nguyễn Trung Hiếu với cảm giác đây là lần cuối với bạn, kèm mặc cảm có lỗi khi
hỏi Hạnh có ư định buông súng bỏ đi hay không. Hạnh trả lời mệt nhọc nhưng kiên
chắc: Anh hỏi tôi c̣n có thể đi đâu khi nguyên cả tiểu đoàn theo lệnh tôi đang
tiếp tục chiến đấu! Anh vào cư xá Chí Ḥa, chứng kiến lúc Chuẩn Tướng Hậu vất
tung tấm bản đồ pḥng thủ căn cứ với lời gầm phẫn uất: Đồ chó đẻ!! khi nghe lệnh
đầu hàng của Dương Văn Minh. Viên thiếu úy quen mặt nói với anh lời quyết liệt:
"Em không đầu hàng, em với trung đội sẽ ra bến tàu, tiếp tục chiến đấu." Thái,
Thiếu úy Huỳnh Văn Thái tập họp trung đội, hô nghiêm, xếp hàng, ra lệnh di
chuyển. Trung đội lính ra khỏi cư xá theo lối cổng Đường Tô Hiến Thành, rẽ vào
Nguyễn Tri Phương, đi về phía chợ Cá Trần Quốc Toản, hướng bến tàu. Nhưng những
Người Lính Nhẩy Dù của Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái không ra đến bến Bạch Đằng, tới
đến bùng binh Ngă Sáu Chợ Lớn, họ xếp thành ṿng tṛn, đưa súng lên trời đồng hô
lớn.. Việt Nam Cộng Hoà Muôn Năm! Con chết đây cha ơi! Và những trái lựu đạn
tiếp nhau bừng bực nỗ sau lời hô vĩnh quyết cùng đất nước Miền Nam.
Sau nầy, anh biết thêm, trên đường anh đi qua trưa 30 tháng Tư, 1975 - Đường Bắc
Hải, ngơ nhỏ băng ra Chợ Ông Tạ, trong một căn nhà đă diễn nên hoạt cảnh uy nghi
bi tráng của cả một gia đ́nh quyết tử cùng vận nước. Thiếu Tá Đặng Sĩ Vĩnh (em
của Bà Hà Thượng Nhân, Trung Tá Phạm Xuân Ninh, niên trưởng của giới báo chí
quân đội Miền Nam) Khoá 1 Nam Định là sĩ quan của ngành t́nh báo đặc biệt, biệt
phái ngoại ngạch qua ngành viễn thông, phụ trách đường giây quốc ngoại. Người
con trai lớn của gia đ́nh, Trung Úy Đặng Trần Vinh sĩ quan Pḥng 2 Bộ Tổng Tham
Mưu. Hai người cùng trao đổi đối thoại sau khi có lệnh đầu hàng: “Tùy con, riêng
bố đă quyết như đă nói với con từ trước” Trung Úy Vinh trả lời: “Nếu bố đă quyết
như thế, con và các cháu cũng đồng ḷng.” Toàn gia đ́nh uống chậm những liều
thuốc độc cực mạnh đă chuẫn bị từ trước. Trung Úy Đặng Trần Vinh kết thúc bi
kịch với viên đạn bắn tung phần sọ năo sau khi đứng chào tấm Đại Kỳ Cờ Vàng Ba
Sọc Đỏ với lời hô khiến sông núi cũng quặn thắt thương đau.. Việt Nam Cộng Ḥa
Muôn Năm!
Tiếp theo Tháng Sáu,
Khi những giọt mưa đầu mùa Hè rơi xuống, từ trong thăm thẳm, xa xôi, tận cùng
trí nhớ - qua âm mưa ray rứt của tháng Sáu – cũng dần thành h́nh lại Nỗi Đau
luôn hiện mới.. Nầy đây, lần tháng Sáu 1965, ngày vỡ trận Đồng Xoài, bắt đầu từ
những ngày sau 10, 11, nơi Nghĩa Trang Quân Đội G̣ Vấp, với hằng trăm, lên đến
số ngàn xác chết của Tiểu Đoàn 2/7 Sư Đoàn 5 Bộ Binh, Tiểu Đoàn 52 Biệt Động, và
đơn vị thân thiết đầu đời, Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù, mà người chết không thể kiểm kê
chính xác, chỉ biết lấy tổng số cơ hữu của đơn vị xong trừ cho đám người hiện có
mặt. Người sốâng sót ngồi nh́n nhau ngơ ngác, vô hồn ở sân cờ tiểu đoàn, đang là
băi hỗn mang chen chúc, gào kêu với những người vợ lính quấn dối vành khăn trắng
xổ tung tưởi do những con nhỏ bấu víu khóc ngất.. Ba, ba.. ba đâu má ơi!! Anh
lúc ấy chỉ là cậu thiếu úy tuổi vừa qua hai-mươi tuổi, nh́n trân vào mỗi người
vợ, con của binh sĩ tử trận (chung trung đội, đại đội anh) với cảm giác có tội -
Tội sống sót khi người khác phải chết - Những người (chết) vô cùng cần thiết cho
những đơn vị gia đ́nh gồm người đàn bà tơi tả, hốt hoảng và những đứa trẻ quá
nhỏ chưa có đủ ư niệm về cái chết của người cha.
Rồi, 22 tháng 6, 1975 đểø chính bản thân anh có cảm giác như chết đi từng phần
trong cơ thể, khi quấy xong b́nh sữa cho con, mang vội chiếc túi nhỏ với cảm
giác tuyệt vọng: Lần đi nầy cùng đành như cơn tử biệt, bởi thấy rơ chiếc bẩy sự
chết đang dần chụp xuống, chắc chắn siết cứng lại. Hh nói tiếng nhỏ thảm thiết:
“Khổ quá, chắc em sống không nổi..” khi đưa anh đến nơi tŕnh diện đi tù, Trường
Lê Văn Duyệt, Gia Định. Cả hai không thể ngờ ra kết thúc oan nghiệt với mười-bốn
năm sau.
Tiếp năm 1976, đúng Ngày Quân Lực, 19 tháng 6, bước xống tàu Sông Hương ở Tân
Cảng, góc cầu xa lộ Sài G̣n- Biên Hoà, nh́n ra xa, thành phố xao xác ánh điện
vàng đục, gịng nước sông cuồn cuộn lẫn màn đêm. Giữa cảnh sống thú vật, tệ hơn
con thú với thế ngồi im không cử động, tiểu, đại tiện trên cùng một chỗ trong
suốt hành tŕnh hai ngày đêm đi ra “Miền Bắc xă hội chủ nghĩa”, so với cái chết
nơi gịng nước trong xanh của biển trời phương Nam, chắc chắn ngàn con người
dưới những căn hầm tàu địa ngục nầy sẽ quyết định dễ dàng nếu như họ có quyền
chọn lựa, Năm 1989, anh trở về với cảm giác đau xót nguyên vẹn của lần bị lăng
nhục lâu dài mười-bốn năm trước. Bước chân vào căn pḥng nhà cũ với tủ sách
trống vốc, lăn lóc nhàu nát cuốn tập con anh tập viết những gịng chữ đầu đời.
Con ḿnh bây giờ ở đâu?
Nhưng anh và những người bạn lính không thể để cuốn trôi, đánh sập bởi thống
nhục thất trận, lưu đày biệt xứ trên quê hương - Người Lính không hề thất vọng
cho dẫu đă toàn phần thất bại. Để tồn tại, tự cứu, anh phải tích chứa, lưu giữ
trí nhớ, dậy nên từ tận sâu mỗi tế bào thần kinh nỗi xúc động vô vàn mănh liệt
của những tháng ngày lịch sử chuyển ḿnh, núi rừng, đất trời miền Nam đồng vang
dội chiến công: Ngày Quân Nam quyết liệt xốc tới nơi những chiến trường Quảng
Trị, Bồng Sơn, Kontum, An Lộc… hiện thực một lần nghĩa vụ linh thiêng muôn thuở
của Người Lính – Bảo Quốc An Dân - Sứ Mệnh không hề nói thành lời nhưng được
hiện thực với chính máu xương của những con người vô danh cao thượng mà Đằng
Phương, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy năm xưa đă viết nên những gịng máu lệ ngợi ca
hùng tráng,
Họ là những anh
hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh
Nhưng can đảm và tận t́nh giúp nước…
Phải, những Người Lính Vô Danh ấy vẫn tồn tại với mười,
hai mươi, ba mươi năm dưới bom đạn cực độ, nơi những trại tùø như “Cổng Trời
Quyết Tiến”, Hà Giang, Sơn La, Yên Bái, Nghĩa Lộ, Thanh Phong, Thanh Cẩm, Lam
Sơn hậu thân hệ thống trại giam Lư Bá Sơ.. Những địa danh trại tù có số lượng mộ
chí gấp đôi, gấp ba lần tổng số tù hiện diện, và người sống sót cũng chỉ là
những xác thân khô kiệt di động chờ ngày chôn xuống huyệt. Những người lính anh
gặp khắp nơi trong cuộc lữ hành với hết tuổi trẻ qua ba-mươi năm chiến tranh và
tù ngục kia đă sống sót qua dài trận băo lửa thống khổ, nhục nhằn, nguy biến mà
chắc rằng không một ai của bất cứ quân đội nào, thuộc bất kỳ một sắc dân nào
trên thế giới có thể bền bĩ chịu đựng với mức độ kiên cường kỳ diệu đến ngần ấy.
Kỳ tích thầm lặng đơn lẽ với phận của “mỗi con người - mỗi người lính” nầy hẳn
chỉ được thực hiện, thúc dục nuôi dưỡng bởi “một động lực vô vàn cao thượng”.
Anh có bổn phận tŕnh bày đầy đủ, và chính xác về hành vi xă kỷ, quên ḿnh nầy.
Nội dung vĩ đại kết nên từ hành vi xă kỷ của mỗi người lính nêu trên được thực
hiện qua cảnh tượng củamột ngày Hè hùng tráng: Ngày 25 tháng 6, 1972, chiến dịch
tái chiếm Quảng Trị khai diễn với các đơn vị, Biệt Động Quân, Nhảy Dù, Thủy Quân
Lục Chiến, lực lượng địa phương của Tiểu Khu Quảng Trị, phối hợp với các chi
đoàn chiến xa, thiết quân vận của Quân Đoàn I, được yểm trợ bởi các đơn vị pháo
cơ hữu, và của vùng chiến thuật. Đoàn quân quyết tử phục hận đồng vượt tuyến
xuất phát Sông Mỹ Chánh tiến theo trục chính Bắc với mục tiêu cuối cùng - Cổ
Thành Đinh Công Tráng hay Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng Trị - mà quân Nam phải tạm
ĺa bỏ từ 29 tháng Tư do những ước tính sai lầm của những cấp chỉ huy, từ viên
tổng thống tại Dinh Độc Lập, đến hàng tướng lănh chiến trường. Sự sai lầm tai
hoạ của những kẻ lănh đạo, chỉ huy nay được chuộc lại bằng giá máu của vạn người
lính xé thân nơi trận địa.
Từ Ngă Ba Long Hưng, cửa ngỏ phía Nam Quảng Trị, điểm tiến quân cao nhất của
Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù trong ngày 7 tháng 7, 1972, đến cổ thành đoạn đường dài
khoảng một cây số, và bề ngang từ nhà ga phía cực tây đến làng công giáo Tri Bưu
phía đông, khoảng cách cũng có bề rộng tương đươngï. Trên khoảng đất rộng hơn
cây số vuông kia, mười-lăm ngàn người lính của những đơn vị kể trên đă thay
phiên nhau ḅ, trườn, ẩn núp, gọi pháo, đánh bom, ném lựu đạn, đánh cận chiến
ngày lẫn đêm suốt đoạn thời gian liên tục 67 ngày, để đến ngày 14 Tháng 9, 1972
những người lính Tiểu Đoàn 1, 2, 3.. 6, 8 TQLC đồng lần siết chặt mục tiêu, dựng
ngọn Cờ Vàng bay lộng trên gạch đá điêu tàn, giữa tiếng đạn, khói thuốc súng của
trận chiến đang hồi kết thúc..
Cờ lên!
Cờ lên!
Giữa vũng lửa
Quân, dân bật khóc nước mắt ứa
Một lần cờ bay trên thành xưa
Bao phần máu xương muôn lính đổ!
Pnn-Cờ ta bay Vàng Nắng Mới Quê HươngVới T́nh Thương,
Người lính vẫn sống.
Tham dự cùng cuộc trường chinh nhọc nhằn với người lính
từ bước khởi cuộc có một nhân dáng nhỏ bé, yếu đuối, âm thầm chịu đựng với nỗi
chết canh cánh không rời - Người Vợ Lính. Đây là một đối tượng bị ngộ nhận, mô
tả sai lạc một cách dung tục (và đáng phải phê phán) qua tất cả những chữ nghĩa,
văn hóa phẩm (của Miền Nam trước 1975, mà hiện nay ở hải ngoại th́ lại hứng chịu
cách đối xử lạnh nhạt, coi thường). Những người đàn bà nầy, từ lúc tuổi vừa qua
hai mươi, đă gánh chịu những giờ phút nguy nan khắc khoải mà không phương cách
chống đở, làm nhẹ bớt đi. Họ thức dậy rất sớm vào buổi sớm mai khi đơn vị di
chuyển hành quân để sửa soạn cho người chồng bữa điểm tâm kham khổ với ư nghĩ
không thể được nghĩ hết, không dám nói ra lời: Biết đâu đây là lần chót!! Họ bế
đứa con c̣n quá nhỏ không khả năng hiểu ra lần tạm biệt hay chia ly đành đoạn
với người cha. Hai mẹ con thu người lại dưới ánh đèn đoàn xe GMC chở quân rời
hậu cứ. Và người đàn bà vợ người lính, thật sự chỉ là cô thiếu nữ đang ở tuổi
thanh xuân kia trở về khu trại gia binh để chờ đợi (một lần rất khả thể) vào một
buổi nào đó viên sĩ quan chỉ huy hậu cứ sẽ đến gơ cửa nhà với câu nói khó khăn,
ngắn lạnh: Chị chuẫn bị ngày mai theo xe hậu cứ lên nghĩa trang nhận anh!! Và
nếu biến cố bi thảm nầy không xẩy ra (như một phép mầu ân sũng), người đàn bà
dần qua hết tuổi trẻ để cùng chia sẻ với chồng một ngọn nguồn đau thương, cảnh
sống nhục nhằn thống khổ - Lần Miền Nam bị bức tử cùng đành, sáng sớm ngày 30
tháng Tư, năm 1975. Vợ và những đứa con người lính bị đuổi ngay ra khỏi những
căn nhà trong trại gia binh, và bị xếp hạng nên thành là “đối tượng thứ 14 trong
15 giai cấp xă hội” - Loại sau cùng thứ 15 nầy là thành phần tù h́nh sự can án
cướp của, giết người với trường hợp gia trọng - Cách định giá đối tượng xă
hội-chính trị của chế độ cộng sản ở Việt Nam. Ở Miền Nam.
Con đường từ ga Thanh Hóa vào các trại tù Lam Sơn, Thanh Phong, Thanh Cẩm dài
khoảng năm chục cây số đường chim bay; đây là đường thượng sơn nối vùng núi non
thượng lưu sông Đà, dẫn lên mạn Lai Châu, Yên Bái, Nghiă Lộ, Điện Biên Phủ hành
lang thông qua vùng Trung và Bắc Lào. Đường hiểm trở chạy quanh co giữa những
rặng núi đá vôi dựng trường thành, làm thành một trở ngại thiên nhiên vô cùng
lợi hại mà ngựa Mông Cổ Thế Kỷ 13 dẫu dẫm nát toàn cơi lục địa Á, Âu vẫn không
thể nào xâm nhập được. Thế Kỷ 15, đạo binh xâm lược Nhà Minh đang ở đỉnh cao
cường thịnh cũng không thể bén mảng vào đến những căn cứ địa Lam Sơn, Chí Linh
của nghĩa quân Lê Lợi. Xe thiết giáp bọc sắt của Quân Đoàn Viễn Chinh Pháp trong
chín năm 1945-1954 cũng đành thúc thủ dưới đồng bằng. Cuối cùng, biệt kích Mỹ
với vũ khí tối hảo, yểm trợ tuyệt đối cũng không có cơ may đổ bộ, tấn công. Và
bản thân những lính bộ đội cộng sản, trong những ngày kháng chiến vệ quốc chưa
lộ mặt, dẫu đang là tuổi trẻ cũng vẫn phải ngă gục trên đoạn đường gai góc..
Nhưng, Người Đàn Bà - Người Vợ Lính, Người Mẹ Miền Nam,
đă cùng đi, đến để với chồng, với con hằng mười năm, hai mươi năm xuyên suốt
khổ nạn quê hương. Họ ra đi lúc trăng non nơi Miền Nam, xuyên qua xĩ nhục, chưởi
gào do đám dân miền Bắc được “học tập căm thù bọn ngụy quân, ngụy quyền và gia
đ́nh bóc lột ăn bám của chúng”, kể cả phải hứng chịu hành hung, cướp giật trên
những chuyến tàu lửa đen đủi, ám khói xuyên “miền Bắc tiên tiến xă hội chủ nghĩa”.
Và cuối cùng, họ đến trại lúc trăng nhạt màu héo úa, đầu tơi tả tóc lấm bụi,
chân khô nẻ gót cắt, với gói quà cứu đói dành giụm từ Miền Nam để nói cùng chồng,
cùng con trong năm mười phút thăm nuôi, lời trung hậu đơn giản: “Anh yên tâm, ở
nhà có em lo. Con cố gắng học tập.. Mẹ c̣n sống ngày nào, Mẹ không bao giờ bỏ
con.”Chỉ với những hành vi, tiếng lời nhỏ bé thăm thẳm thương yêu vừa kể ra trên
- Người Lính đă kiên cường xốc tới trong lửa đạn, và tồn tại sau chiến tranh,
trong ngục tù, bởi họ đă vô vàn nhận lănh: Vô Lượng Tấm Ḷng Người Vợ- Người Mẹ
Miền Nam.
Thủy chung, anh chỉ có một tấm ḷng để nói cùng Người. Với Người Lính, như đă
một lần, về một nội dung, trong suốt một đời. Ba-mươi năm bùng vỡ trận Ban Mê
Thuộc.