Những đứa con Tam Ṭa viết về Tam Ṭa.
Hoàng Sơn


Trước năm 1963, người Mỹ và cả thế giới hầu như không biết nước Việt Nam nằm ở đâu. Có những sinh viên Mỹ nói Việt Nam ở bên Phi Châu; người khác lại đoán ở dưới cùng Nam Mỹ. Nhưng sau khi nền Đệ Nhất Cộng Ḥa sụp đỗ, gần 500,000 chiến binh Mỹ được gởi vào Việt Nam để nói là bảo vệ tiền đồn Tự Do, người Mỹ và thế giới mới biết Việt Nam nằm ở đâu. Họ đạo Tam Ṭa cũng giống như vậy. Ngay cả người Việt trong nước, nói chi người Việt ở hải ngoại hay người ngoại quốc, cũng không biết Tam Ṭa ở đâu.
Nhưng sau biến cố họ đạo Tam Ṭa bị chính quyền Cộng sản tỉnh Quảng B́nh tấn công ngày 20 tháng 7 vừa qua, giáo dân bị đánh, hàng giáo sĩ bị hành hung đến trọng thương, đồ đạc, tiền bạc và vật dụng thánh lễ bị tước đoạt. Thánh giá là một biểu tượng cho người Công giáo tôn thờ cũng bị cướp đi. Cuộc chiến một mất một c̣n giữa giáo dân Tam Ṭa với chính quyền Quảng B́nh đang đi vào hồi quyết liệt. 80 triệu người dân trong nước, cả thế giới, hàng ngàn cơ quan truyền thông các quốc gia Tự do đang hướng về Tam Ṭa. Người ta đang chờ đợi và theo dơi biến cố Tam Ṭa sẽ đi về đâu?


Nguyễn Cần (Lữ Giang) viết về danh xưng Tam Ṭa:


Sau khi các vụ bách hại chấm dứt, Linh mục Bonin đă tập trung các giáo dân tỵ nạn ở phía nam Quảng B́nh lại và quyết định thành lập một giáo xứ mới ở phía bắc thành Động Hải và lấy tên là giáo xứ Tam Ṭa.
 

 

 

 

 

 

 

Nếu Linh mục Claude Bonin là người có công thành lập giáo xứ Tam Ṭa th́ Linh mục Réné Toussaint Morineau là người có công lớn trong việc xây dựng giáo xứ Tam Ṭa. Ngài sinh ngày 1.11.1873 tại La Salle-de-Vihier, thuộc giáo phận Angers, Pháp, thụ phong Linh mục ngày 26.6.1898 và được sai đến Giáo phận Huế ngày 27.7.1898. Trước tiên, ngài được bổ nhiệm làm Phó xứ Diêm Tụ, Phú Vang, Thừa Thiên. Năm 1899, ngài là Chánh xứ Thừa Lưu, rồi Lại Ân, Tân Mỹ. Năm 1922 ngài đến làm Chánh xứ Trí Bưu, Quảng Trị, và xây nhà thờ La Vang. Năm 1934, ngài được bổ nhiệm Nhà thờ Tam Ṭa trước năm 1954 làm Chánh xứ Tam Ṭa, Đồng Hới, Quảng B́nh. Tại đây, ngài đă thực hiện những công tŕnh sau đây:
- Năm 1940 xây cất nhà thờ Tam Ṭa
(hiện nay chỉ c̣n lại cái tháp giữa).
- Làm nhà cha sở trong một khu vườn rộng rất đẹp và khang trang. Nhà này là một nhà lầu hai tầng, dưới có 3 pḥng và trên có 3 pḥng.
- Thiết lập hệ thống đường sá trong giáo xứ, nhất là con đường nối liền nhà thờ với quốc lộ 1.
- Vận động sở Công Chánh xây một bờ đê kiên cố từ Cầu Mụ Kề đến hết nhà cha xứ.
- Xây Ḍng Mến Thánh Giá đối diện với nhà cha sở.
- Xây nhà dục anh ở cuối làng để nuôi trẻ mồ côi.


Những công tŕnh xây cất của giáo xứ Tam Ṭa mà chúng ta thấy trước khi rời Tam Ṭa năm 1954 đều do cha Morineau xây.
Ngày 9.3.1945, khi Nhật đảo chính Pháp, cha Morineau bị quản chế ở Bangolov
(nhà công quán) ở phía nam thành Đồng Hới. Sau khi Việt Minh cướp chính quyền vào tháng 8 năm 1945, cha bị tập trung ở Nhà Chung, Huế, sau đó được đưa ra quản chế ở giáo xứ Cầu Rầm, Vinh. Ngài đă qua đời tại đây ngày 20.4.1948, thọ 75 tuổi.
Những ngày cuối cùng trước khi rời Tam Ṭa vào Nam 1954:

Trong khi chúng tôi lo tiếp những người từ xa đến th́ trên đường phố của thành phố Đồng Hới, Việt Minh tổ chức biểu t́nh “hoan hô Cách Mạng” liên tiếp từ ngày này qua ngày khác với thái độ hung hăng, nhưng chúng tôi chẳng ai lo sợ ǵ cả!
Sáng 8.8.1954, Trung Úy ngưới Pháp đến báo tin cho chúng tôi biết phải rời thành phố chiều hôm nay và phải đi bằng đường bộ vượt qua sông Bến Hải, v́ không c̣n phương tiện tàu thủy hay máy bay nữa. Con đường từ Đồng Hới đến Bến Hải dài 71 cây số. Cách đây một năm, ba chúng tôi đă dám vượt qua các băi ḿn, đi bộ từ Bến Hải đến Đống Hới, nên khi được bảo phải đi bằng đường bộ, chúng tôi không có chút lo ngại nào. Đúng là điếc không sợ súng!
Chiều hôm đó, khi chúng tôi qua khỏi phà Quản Hàu, cách thành phố Đồng Hới khoảng 3 cây số, quay nh́n lại th́ thành phố đang cháy!
Tôi nhớ lại, khi tôi trao tấm thẻ đỏ di cư cho người anh họ của tôi là anh Nguyễn Thật, thường được gọi là anh Sen, để anh và gia đ́nh lên đường vào Đằ Nẵng, anh ấy đă cúi đầu xuống và thở dài: “Đi như thế này rồi cũng mất nữa thôi!”


Lời tiên đoán đó đă đúng 20 năm sau!
Năm 1989, khi tôi ghé thăm Đồng Hới và Tam Ṭa để chuẩn bị ra đi, tôi không c̣n nhận ra được đâu là căn nhà cũ của tôi, đâu là ngôi trường tôi đă học ngày xưa... Chỉ c̣n cái tháp nhà thờ chơi vơi giữa một khoảng trống. Đây là cái tháp tôi thường leo lên đó ngủ vào mùa hè. Những ǵ mà chúng tôi đă ghi lại trên chỉ c̣n trong trí nhớ. Đồng Hới và Tam Ṭa cũ không c̣n nữa, nhưng tinh thần Tam Ṭa vẫn c̣n. Những ǵ các nhà truyền giáo và cha ông chúng ta đă dùng xương máu để làm ở nên Tam Ṭa, các thế hệ đi sau phải nối tiếp. Xin đừng quên tinh thần Tam Ṭa.


Nguyễn Đức Cung viết về trường Chơn Phước Phượng:


Trong năm 1948, do sự thỉnh cầu của linh mục Simon Hoàng Văn Tâm, Chính xứ Tam Ṭa, Đồng Hới, Ḍng Thánh Tâm chuyển một số bộ phận ra Quảng B́nh thiết lập một cơ sở mới tại Tam Ṭa gồm có một chi nhánh tu viện và một cơ sở giáo dục gồm hai bậc tiểu học và trung học có tên Trường Trung Tiểu Học Chơn Phước Phượng, tức là lấy danh xưng của Chơn Phước Mathêô Nguyễn Văn Phượng vốn là trùm hạt Quảng B́nh đă tử v́ đạo tại Đồng Hới ngày 26-5-1861 mà đặt cho trường và địa điểm của Trường Tiểu Học Sainte Marie trước đây được chọn để xây dựng cơ sở này. Một ṭa nhà hai tầng cũng đă được Ḍng xây dựng quay lưng lại với ḍng sông Nhật Lệ phối hợp với dăy nhà cũ như h́nh chữ L với một cột cờ cao vút dựng lên ở giữa sân trường cùng với một cái sân bóng chuyền hấp dẫn rất nhiều học sinh và các đoàn thể thanh niên, quân đội đến chơi bóng.
 

 

 

 

 

 

(Trường Chơn Phước Phượng đang xây)

Chương tŕnh học áp dụng tại Trường Trung Tiểu Học Chơn Phước Phượng là chương tŕnh Hoàng Xuân Hăn về sau được thay đổi chút ít gồm có tiếng Việt là chính, với các môn ngoại ngữ như tiếng Pháp và tiếng Anh. Các lớp có từ Đệ thất (lớp 6) đến Đệ tứ (lớp 9). Trong các pḥng học, học sinh vẫn c̣n nhớ các khẩu hiệu cắt bằng giấy mầu dán lên tường trên bảng đen như : Tương lai nước nhà do nơi thanh niên, Biết vâng lời sau mới biết điều khiển hoặc các danh ngôn khác như Đường đi khó, không khó v́ ngăn sông cách núi, mà khó v́ ḷng người ngại núi e sông (Lời nói của Nguyễn Bá Học) v.v...
Tuy không có chương tŕnh dạy giáo lư cho học sinh nhưng giữa các giờ học buổi sáng cũng như buổi chiều có người gióng lên ba tiếng chuông nhỏ treo ở gian cuối cùng của dăy nhà cũ gọi là một phút “nhớ Chúa”, và lúc bấy giờ tất cả học sinh và thầy giáo đều đứng lên. Vị thầy giáo cũng là sư huynh xướng lên câu kinh Latinh như sau:
- “Sursum corda”
(nghĩa là: Hăy nâng tâm hồn lên).


Tất cả học sinh đáp lại:
“Habemus ad Dominum”!
(nghĩa là: Chúng con đang hướng về Chúa).


Thật sự đa số học sinh lúc bấy giờ không hiểu ư nghĩa câu này nhưng tất cả đều kính cẩn trong phút đó kể cả rất nhiều học sinh vốn có tôn giáo khác như Phật Giáo hay đạo ông bà. Trường Chơn Phước Phượng tuy mở ra ở giáo xứ Tam Ṭa nhưng vẫn thu hút rất nhiều học sinh trong toàn tỉnh v́ chỉ có đây là nơi mở bậc trung học theo đúng chương tŕnh của Bộ Quốc Gia Giáo Dục mà thôi.
Các sư huynh Ḍng Thánh Tâm dạy học tại trường phải nói là những tấm gương mẫu mực của những người hiến thân cho lư tưởng tôn giáo và giáo dục. Ngày nay có rất nhiều người xuất thân từ ngôi trường nhỏ bé này mỗi lần có dịp nhắc lại trường cũ đều nói đến với tất cả tấm ḷng mến thương.


Vân Tŕnh Nguyễn Văn Lượng, nói thêm về ngôi trường ông đă dạy:
Trựng St. Marie là trựng tư thục Công giáo đầu tiên tại Đồng Hới được thiết lập vào khoảng năm 1938 (?). Đồng thời cũng có một trường tư thục khác ở đựng Bờ Sông có tên là trựng Kiến Giang mà tôi c̣n nhớ tên một số giáo viên như qúy ông Lương Duy Ủy, Nguyễn Văn Đẳng ở chức vụ Tỉnh trưởng. Vào khoảng năm 1952 có thêm trường Bồ Đề tọa lạc trên Quốc lộ I, gần Cầu Dài, do cụ Tú Oanh làm hiệu trưởng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(Các chủng sinh Tam Ṭa 1943)

Trựng St. Marie tọa lạc trên khu đất gần cầu Mụ Kề, sát bờ sông Nhật Lệ, giới hạn bởi đườøng Bờ Sông, đường Tam Ṭa và khuôn viên của nhà ông Nguyễn Phi Long. Trường quay mặt về hướng Nam, xây cất bằng đá tổ ong, có nền rất cao, có mái lợp ngói móc Nam Định. Trường gồm 5 pḥng ốc rộng răi có cử kiếng sáng sủa, vừa dùng làm lớp học và văn pḥng. Niên khóa đó chỉ dạy đến sau Tết Đinh Hợi (1947) th́ đóng cửa v́ có lệnh “tiêu thổ kháng chiến”... “vườn không nhà trống”. (ngưng trích)


Theo chỗ chúng tôi tra cứu, dân làng Tam Ṭa hầu hết sống bằng nghề biển. Nơi đây có những nhà sản xuất nước mắm lớn, ngon nôåi tiếng của các cụ Hoàng Thừa, Hoàng Nguyệt. Đặc biệt là hăng Nước Mắm Cá Vàng của cụ Nguyễn Phi Long. Ngoài việc sản xuất tại Tam Ṭa rồi được chuyên chở ra Hà Nội, sau nầy v́ nhu cầu tiêu thụ của xứ Hà Thành lên cao, cụ đă thiết lập một hăng chế tạo nước mắm ngay tạo Ô Cầu Giấy, nhưng cá được mang từ Tam Ṭa ra Hà Nội. Văn pḥng hăng được đặt tại 7 Phố Tràng Tiền
(trước mặt Nhà Hát Lớn Hà Nội. Nghề đúc đồng của cụ  Nguyễn Thi cũng nổi tiếng khắp miền Trung. Tam Ṭa c̣n có những tay vơ nghệ rất cao cường.

 

Lănh vực nầy:
Hoàng Minh Hùng viết trong cuốn “Tam Ṭa Quê Tôi”:

 

 

 

 

 

 

(Tam Ṭa ngập

lụt năm Th́n.


Theo ông Hoàng Minh Hùng hiện ở Ohio, khoảng những năm đầu của thập niên 40, có 5 người vơ nghệ nổi tiếng của Tam Ṭa được gọi là « Ngũ Hổ Tam Ṭa » là Nguyễn Mầu, Nguyễn Diêu, Nguyễn Vinh, Hoàng Minh Chiếu và Nguyễn Đề. Nguyễn Mầu khoảng năm 1938-1940 lưu lạc vào Đà Lạt, nhờ gặp một thầy Tầu giỏi vơ nghệ truyền cho. Về sau Nguyễn Mầu truyền lại cho đám bạn bè kể trên. Học tṛ của Nguyễn Mầu rải rác khắp các làng Công Giáo ở Quảng Trị như Dương Lộc, An Lộng, Bố Liêu... Về sau Nguyễn Mầu làm cận vệ cho Trung tướng Nguyễn Ngọc Lễ
(người Duy Xuyên, vợ là bà Thanh Độ, sinh quán Quảng B́nh). Rút kinh nghiệm từ việc giáo xứ Sáo Bùn bị quân Văn Thân đốt phá năm 1886, nhóm « Ngũ Hổ Tam Ṭa » này quyết biến làng Đồng Mỹ thành vùng đất bất khả xâm phạm, v́ làng Phú Ninh ở bên cạnh vẫn thường hay có những hành động khiêu khích, muốn gây hấn. Trong số các tay vơ nghệ cao cường này có Hoàng Minh Chiếu là khá kiệt hiệt.

 

 

 

 

 

 

 

 

(Dân làng cứu lụt năm 1950)

 

Nói chuyện về « Ngũ Hổ Tam Ṭa », người địa phương cũng hay nhắc đến trận tỉ thí vơ đài tại Đồng Hới năm 1951 giữa một tay vơ vô địch huyện Lệ Thủy với Nguyễn Diêu. Theo lời ông Nguyễn Sún (bố của anh Nguyễn Năm tức Maru, một Hạ sĩ quan Hải quân QLVNCH, người làng Đồng Mỹ), khi hai người vừa thượng đài, địch thủ chưa kịp ra quyền th́ Nguyễn Diêu đă nhẹ tung một cước trúng vào huyệt cự quan, người kia ngă vật xuống sàn ngay. Sau nhóm Ngũ hổ này, một số khác được đào tạo từ ḷ Nguyễn Mầu như Nguyễn Tề, Nguyễn Sửu, Nguyễn Chính, Nguyễn Thường và Phạm Văn Kiễng (em bà Phạm Thị Th́n, đi theo kháng chiến sau bỏ về năm 1953) cũng là những tay vơ nghệ hơn người, tuy không được xuất sắc như nhóm đàn anh nói trên.

 



Nguyễn Phi Thọ viết về nét đẹp của Tam Ṭa:
Tam Ṭa! Làng tôi.
 

 

 

 

 

 

 

Bây giờ ở Mỹ, tuổi đă lớn, tôi nh́n lui lại 53 năm về trước, tôi mới thấy làng tôi đẹp, quá đẹp. Làng tôi như một bức tranh thật tuyệt vời với non xanh nước biếc, sơn thủy hữu t́nh. Cách đây 53 năm, v́ ở lứa tuổi chúng tôi thời đó c̣n quá nhỏ, nên không nh́n ra được cái đẹp của làng. Làng nằm cạnh một ḍng sông thật thơ mộng, nơi tiếp giáp cuối ḍng sông Nhật Lệ với biển rộng bao la. Đứng trong làng có thể nh́n thấy cửa biển Thái B́nh Dương (biển Đông Hải) có nước xanh như ngọc bích, cát trắng như tuyết, nằm phơi ḿnh rực rỡ, lóng lánh dưới ánh mặt trời , Nh́n về hướng Tây là dăy Trường Sơn trùng điệp, những đỉnh núi cao như chọc thẳng lên bầu trời xanh thẳm. Mỗi buổi sáng nh́n sương trắng bay lững lờ giữa sườn núi đẹp như một bức tranh Tàu. Và c̣n biết bao nhiêu thắng cảnh đẹp thiên nhiên ở quanh làng, tiếc thay chúng tôi chưa bao giờ được tới.


Ngôi thánh đường cổ Tam Ṭa được xây theo kiểu thời Trung cổ Bồ Đào Nha nằm bên bờ sông Nhật Lệ, những rặng phi lao rũ lá, những hàng phượng vỹ đỏ rực bên ḍng sông nước xanh như ngọc khi mùa hè đến, là biểu tượng cho một trong những h́nh ảnh xóm đạo Việt Nam thật đẹp, thật êm đềm và thanh b́nh của những tháng năm ḥa b́nh trong qúa khứ. Đó cũng là lư do tại sao chính quyền Quảng B́nh quyết tâm biến thánh đường Tam Ṭa thành một nơi “gọi là di tích tội ác chiến tranh”. Nhưng thực chất là họ sẽ biến địa danh nầy thành một nơi du lịch thu hút nhiều du khách khắp thế giới về đây. Bên kia sông Nhật Lệ đă là một Trung tâm Resort có tầm vóc quốc tế để yểm trợ cho kế hoạch nầy.

 

 

 

 

 

(Mộ ngôi nhà lớn trong làng bị CS đốt cháy sau khi tiến vào làng năm 1954. H́nh trên)


Và anh cũng trích dẫn một đứa con Tam Ṭa rất nổi tiếng trong cuốn “Quảng B́nh 900 năm nh́n lại của NĐC”: Thi sĩ Hàn Mạc Tử:


“Hàn Mạc Tử tức Trần Trọng Trí sinh giờ th́n ngày 22 tháng 9 năm 1912 tại làng Lệ Mỹ, tổng Vơ Xá, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng B́nh. (Phường Đồng Mỹ có một lịch sử lâu dài với các tên làng Lệ Mỹ rồi đổi ra họ giáo Động Hải, giáo xứ Sáo Bùn rồi giáo xứ Tam Ṭa). Ông chịu phép Rữa Tội ngày 25 tháng 9 năm 1912 tại nhà thờ Tam Ṭa (Đồng Hới) với tên thánh là Phanxicô, bố đỡ đầu là Giuse Trần Phan (1883-1948) là phó xứ Tam Ṭa từ 1912-1927. Thân sinh nhà thơ là cụ Vinhsơn Nguyễn Văn Toản. Lúc sinh Nguyễn Trọng Trí, ông cụ đang làm Chủ Sự Sở Thương Chánh Nhật Lệ ở Đồng Hới. Thân mẫu là bà Maria Nguyễn Thị Duy, con gái thứ 9 của cụ Nguyễn Long, ngự y triều vua Tự Đức (bà cụ mất năm 1951 tại G̣ Bồi, B́nh Định. Thọ 71 tuổi). Cụ Toản vốn ḍng họ Phạm, con ông Phạm Bồi, cháu nội ông Phạm Chương quê ở Thanh Hóa. V́ vướng vào chuyện quốc sự nên ông Phạm Bồi phải trốn vào Thừa Thiên và đổi ra họ Nguyễn. Khi đến tuổi đi học, ông Toản được thân phụ nhờ cụ Nguyễn Hữu Bài xin cố Đồng, một linh mục người Pháp, cho đi tu để làm linh mục. Ông Toản đă lên Đại Chủng Viện, chức Tư, sau đó hoàn tục và ra làm việc cho ṭa Sứ ở Huế và Hội An rồi qua làm sở Thương Chánh. Mẹ của Hàn Mạc Tử là người Duy Xuyên, Quảng Nam. Nguyễn Trọng Trí đi nhiều nơi theo cha và học tại nhiều trường: năm 1926 ông học ở Qui Nhơn, 1928 học trường Pellerin Huế, từ năm 1932-1933 làm sở Đặc Điền Qui Nhơn. Nhờ người anh đầu là người rất giỏi về thơ Đường luật hướng dẫn động viên, Hàn Mạc Tử làm thơ vào tuổi 15 lấy hiệu Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh (ghép chữ đầu Lệ Mỹ và chữ đầu Thanh Tân). (Quảng B́nh 900 năm nh́n lại. NĐC)

 

Bây giờ, sau 53 năm, tôi trở về thăm lại làng xưa. Tôi biết trở về lúc nầy cũng chẳng c̣n nh́n đâu vào đâu. H́nh ảnh làng quê lối cũ, mái trường thân yêu, ngôi thánh đường nay đă bị rêu phong phủ kín... nhưng chắc chắn những kỷ niệm êm đềm thuở ấu thơ vẫn c̣n đó, c̣n kia. Nước sông Nhật Lệ vẫn êm đềm chảy như ḍng nước mắt của người Tam Ṭa đang sống nơi đất lạ xứ người, ḥa chung cùng nước mắt của con dân Tam Ṭa đang tuôn trào v́ những đợt tấn công ào ạt, dă man đang xảy ra trên mảnh đất Tam Ṭa hiện nay.

 

 

 

 

 

 

 

(Bức h́nh cuối cùng tác giả đứng với thân phụ trước khi bỏ làng vào Nam 1954.).

 

Giáo xứ Tam Ṭa trước đây thuộc địa phận Huế, nhưng mấy năm sau nầy được sát nhập vào địa phận Vinh. Tam Ṭa đang trải qua một biến động mà cả thế giới đang nh́n vào. Người dân Tam Ṭa triền miên qua hơn hai thế kỷ phải lănh chịu bao tang thương v́ vận đời lẫn vận đạo. Hết chạy trốn bắt đạo thời Văn Thân về sống yên b́nh bên ḍng sông Nhật Lệ; chưa được bao lâu lại phải chạy trốn Cộng sản sau hiệp định Genève 1954 vào Đà Nẵng. Nơi đây cũng chưa phải là đất bền lâu cho con dân Tam Ṭa. Biến cố 30 tháng Tư 1975, quân phương Bắc một lần nữa chiếm trọn miền Nam, đẩy người dân Tam Ṭa chạy tán loạn. Người c̣n lại trong nước, kẻ băng rừng vượt biển ra ngoài nước làm thân vong quốc. Hiện nay dân làng Tam Ṭa sống tụ tập khá đông tại thành phố Portland, Oregon.
Bây giờ, thế hệ thứ ba, trận chiến cuối cùng của những đứa con Tam Ṭa lại phải trực diện với bạo lực, một đối thủ mà họ không thể đương đầu bằng vũ khí nhưng bằng niềm tin và ḷng kiên tŕ quả cảm. Đầu ông trùm họ đạo Tam Ṭa: Thánh Mathêo Phượng đă rơi và máu đă đổ dưới triều vua Tự Đức. Nước mắt con dân Tam Ṭa đă chảy sau hai lần chạy trốn Cộng sản Việt Nam. Bây giờ lại phải chịu đựng nhiều thảm khốc giết đạo dưới thời vua Cộng sản Nguyễn Minh Triết . Ai sẽ cứu họ trong cuộc chiến cuối cùng nầy? Thiên Chúa hay Vatican?


Hoàng Sơn