|
Những
đứa con Tam Ṭa viết về Tam Ṭa.
Hoàng Sơn
Trước năm 1963, người Mỹ và cả thế giới hầu như không biết nước Việt
Nam nằm ở đâu. Có những sinh viên Mỹ nói Việt Nam ở bên Phi Châu;
người khác lại đoán ở dưới cùng Nam Mỹ. Nhưng sau khi nền Đệ Nhất
Cộng Ḥa sụp đỗ, gần 500,000 chiến binh Mỹ được gởi vào Việt Nam để
nói là bảo vệ tiền đồn Tự Do, người Mỹ và thế giới mới biết Việt Nam
nằm ở đâu. Họ đạo Tam Ṭa cũng giống như vậy. Ngay cả người Việt
trong nước, nói chi người Việt ở hải ngoại hay người ngoại quốc,
cũng không biết Tam Ṭa ở đâu.
Nhưng sau biến cố họ đạo Tam Ṭa bị chính quyền Cộng sản tỉnh Quảng
B́nh tấn công ngày 20 tháng 7 vừa qua, giáo dân bị đánh, hàng giáo
sĩ bị hành hung đến trọng thương, đồ đạc, tiền bạc và vật dụng thánh
lễ bị tước đoạt. Thánh giá là một biểu tượng cho người Công giáo tôn
thờ cũng bị cướp đi. Cuộc chiến một mất một c̣n giữa giáo dân Tam
Ṭa với chính quyền Quảng B́nh đang đi vào hồi quyết liệt. 80 triệu
người dân trong nước, cả thế giới, hàng ngàn cơ quan truyền thông
các quốc gia Tự do đang hướng về Tam Ṭa. Người ta đang chờ đợi và
theo dơi biến cố Tam Ṭa sẽ đi về đâu?
Nguyễn Cần (Lữ Giang)
viết về danh xưng Tam Ṭa:
Sau khi các vụ bách hại chấm dứt, Linh mục Bonin đă tập trung các
giáo dân tỵ nạn ở phía nam Quảng B́nh lại và quyết định thành lập
một giáo xứ mới ở phía bắc thành Động Hải và lấy tên là giáo xứ Tam
Ṭa.
Nếu Linh mục Claude Bonin là người có
công thành lập giáo xứ Tam Ṭa th́ Linh mục Réné Toussaint Morineau
là người có công lớn trong việc xây dựng giáo xứ Tam Ṭa. Ngài sinh
ngày 1.11.1873 tại La Salle-de-Vihier, thuộc giáo phận Angers, Pháp,
thụ phong Linh mục ngày 26.6.1898 và được sai đến Giáo phận Huế ngày
27.7.1898. Trước tiên, ngài được bổ nhiệm làm Phó xứ Diêm Tụ, Phú
Vang, Thừa Thiên. Năm 1899, ngài là Chánh xứ Thừa Lưu, rồi Lại Ân,
Tân Mỹ. Năm 1922 ngài đến làm Chánh xứ Trí Bưu, Quảng Trị, và xây
nhà thờ La Vang. Năm 1934, ngài được bổ nhiệm Nhà thờ Tam Ṭa trước
năm 1954 làm Chánh xứ Tam Ṭa, Đồng Hới, Quảng B́nh. Tại
đây, ngài đă thực hiện những công tŕnh sau đây:
- Năm 1940 xây cất nhà thờ Tam Ṭa (hiện nay chỉ c̣n lại cái tháp
giữa).
- Làm nhà cha sở trong một khu vườn rộng rất đẹp và khang trang. Nhà
này là một nhà lầu hai tầng, dưới có 3 pḥng và trên có 3 pḥng.
- Thiết lập hệ thống đường sá trong giáo xứ, nhất là con đường nối
liền nhà thờ với quốc lộ 1.
- Vận động sở Công Chánh xây một bờ đê kiên cố từ Cầu Mụ Kề đến hết
nhà cha xứ.
- Xây Ḍng Mến Thánh Giá đối diện với nhà cha sở.
- Xây nhà dục anh ở cuối làng để nuôi trẻ mồ côi.
Những công tŕnh xây cất của giáo xứ Tam Ṭa mà chúng ta thấy trước
khi rời Tam Ṭa năm 1954 đều do cha Morineau xây.
Ngày 9.3.1945, khi Nhật đảo chính Pháp, cha Morineau bị quản chế ở
Bangolov (nhà công quán) ở phía nam thành Đồng Hới. Sau khi Việt
Minh cướp chính quyền vào tháng 8 năm 1945, cha bị tập trung ở Nhà
Chung, Huế, sau đó được đưa ra quản chế ở giáo xứ Cầu Rầm, Vinh.
Ngài đă qua đời tại đây ngày 20.4.1948, thọ 75 tuổi.
Những ngày cuối cùng trước khi rời Tam Ṭa vào Nam 1954:
Trong khi chúng tôi lo tiếp những người từ xa đến th́ trên đường phố
của thành phố Đồng Hới, Việt Minh tổ chức biểu t́nh “hoan hô Cách
Mạng” liên tiếp từ ngày này qua ngày khác với thái độ hung hăng,
nhưng chúng tôi chẳng ai lo sợ ǵ cả!
Sáng 8.8.1954, Trung Úy ngưới Pháp đến báo tin cho chúng tôi biết
phải rời thành phố chiều hôm nay và phải đi bằng đường bộ vượt qua
sông Bến Hải, v́ không c̣n phương tiện tàu thủy hay máy bay nữa. Con
đường từ Đồng Hới đến Bến Hải dài 71 cây số. Cách đây một năm, ba
chúng tôi đă dám vượt qua các băi ḿn, đi bộ từ Bến Hải đến Đống Hới,
nên khi được bảo phải đi bằng đường bộ, chúng tôi không có chút lo
ngại nào. Đúng là điếc không sợ súng!
Chiều hôm đó, khi chúng tôi qua khỏi phà Quản Hàu, cách thành phố
Đồng Hới khoảng 3 cây số, quay nh́n lại th́ thành phố đang cháy!
Tôi nhớ lại, khi tôi trao tấm thẻ đỏ di cư cho người anh họ của tôi
là anh Nguyễn Thật, thường được gọi là anh Sen, để anh và gia đ́nh
lên đường vào Đằ Nẵng, anh ấy đă cúi đầu xuống và thở dài: “Đi như
thế này rồi cũng mất nữa thôi!”
Lời tiên đoán đó đă đúng 20 năm sau!
Năm 1989, khi tôi ghé thăm Đồng Hới và Tam Ṭa để chuẩn bị ra đi,
tôi không c̣n nhận ra được đâu là căn nhà cũ của tôi, đâu là ngôi
trường tôi đă học ngày xưa... Chỉ c̣n cái tháp nhà thờ chơi vơi giữa
một khoảng trống. Đây là cái tháp tôi thường leo lên đó ngủ vào mùa
hè. Những ǵ mà chúng tôi đă ghi lại trên chỉ c̣n trong trí nhớ.
Đồng Hới và Tam Ṭa cũ không c̣n nữa, nhưng tinh thần Tam Ṭa vẫn
c̣n. Những ǵ các nhà truyền giáo và cha ông chúng ta đă dùng xương
máu để làm ở nên Tam Ṭa, các thế hệ đi sau phải nối tiếp. Xin đừng
quên tinh thần Tam Ṭa.
Nguyễn Đức Cung viết về trường Chơn Phước Phượng:
Trong năm 1948, do sự thỉnh cầu của linh mục Simon Hoàng Văn Tâm,
Chính xứ Tam Ṭa, Đồng Hới, Ḍng Thánh Tâm chuyển một số bộ phận ra
Quảng B́nh thiết lập một cơ sở mới tại Tam Ṭa gồm có một chi nhánh
tu viện và một cơ sở giáo dục gồm hai bậc tiểu học và trung học có
tên Trường Trung Tiểu Học Chơn Phước Phượng, tức là lấy danh xưng
của Chơn Phước Mathêô Nguyễn Văn Phượng vốn là trùm hạt Quảng B́nh
đă tử v́ đạo tại Đồng Hới ngày 26-5-1861 mà đặt cho trường và địa
điểm của Trường Tiểu Học Sainte Marie trước đây được chọn để xây
dựng cơ sở này. Một ṭa nhà hai tầng cũng đă được Ḍng xây dựng quay
lưng lại với ḍng sông Nhật Lệ phối hợp với dăy nhà cũ như h́nh chữ
L với một cột cờ cao vút dựng lên ở giữa sân trường cùng với một cái
sân bóng chuyền hấp dẫn rất nhiều học sinh và các đoàn thể thanh
niên, quân đội đến chơi bóng.
| 
(Trường Chơn Phước Phượng đang xây)
|
Chương tŕnh học áp dụng tại Trường Trung Tiểu Học Chơn Phước Phượng
là chương tŕnh Hoàng Xuân Hăn về sau được thay đổi chút ít gồm có
tiếng Việt là chính, với các môn ngoại ngữ như tiếng Pháp và tiếng
Anh. Các lớp có từ Đệ thất
(lớp 6) đến Đệ tứ
(lớp 9). Trong các
pḥng học, học sinh vẫn c̣n nhớ các khẩu hiệu cắt bằng giấy mầu dán
lên tường trên bảng đen như : Tương lai nước nhà do nơi thanh niên,
Biết vâng lời sau mới biết điều khiển hoặc các danh ngôn khác như
Đường đi khó, không khó v́ ngăn sông cách núi, mà khó v́ ḷng người
ngại núi e sông (Lời nói của Nguyễn Bá Học)
v.v...
Tuy không có chương tŕnh dạy
giáo lư cho học sinh nhưng giữa các giờ học buổi sáng cũng như buổi
chiều có người gióng lên ba tiếng chuông nhỏ treo ở gian cuối cùng
của dăy nhà cũ gọi là một phút “nhớ Chúa”, và lúc bấy giờ tất cả học
sinh và thầy giáo đều đứng lên. Vị thầy giáo cũng là sư huynh xướng
lên câu kinh Latinh như sau:
- “Sursum corda”
(nghĩa là: Hăy nâng tâm hồn lên).
Tất cả học sinh đáp lại:
“Habemus ad Dominum”!
(nghĩa là: Chúng con đang hướng về Chúa).
Thật sự đa số học sinh lúc bấy giờ không hiểu ư nghĩa câu này nhưng
tất cả đều kính cẩn trong phút đó kể cả rất nhiều học sinh vốn có
tôn giáo khác như Phật Giáo hay đạo ông bà. Trường Chơn Phước Phượng
tuy mở ra ở giáo xứ Tam Ṭa nhưng vẫn thu hút rất nhiều học sinh
trong toàn tỉnh v́ chỉ có đây là nơi mở bậc trung học theo đúng
chương tŕnh của Bộ Quốc Gia Giáo Dục mà thôi.
Các sư huynh Ḍng Thánh Tâm dạy học tại trường phải nói là những tấm
gương mẫu mực của những người hiến thân cho lư tưởng tôn giáo và
giáo dục. Ngày nay có rất nhiều người xuất thân từ ngôi trường nhỏ
bé này mỗi lần có dịp nhắc lại trường cũ đều nói đến với tất cả tấm
ḷng mến thương.
Vân Tŕnh Nguyễn Văn Lượng, nói thêm về ngôi trường ông đă dạy:
Trựng St. Marie là trựng tư thục Công giáo đầu tiên tại Đồng Hới
được thiết lập vào khoảng năm 1938 (?). Đồng thời cũng có một trường
tư thục khác ở đựng Bờ Sông có tên là trựng Kiến Giang mà tôi c̣n
nhớ tên một số giáo viên như qúy ông Lương Duy Ủy, Nguyễn Văn Đẳng ở
chức vụ Tỉnh trưởng. Vào khoảng năm 1952 có thêm trường Bồ Đề tọa
lạc trên Quốc lộ I, gần Cầu Dài, do cụ Tú Oanh làm hiệu trưởng.

(Các chủng sinh Tam Ṭa 1943) |
Trựng St. Marie tọa lạc trên khu đất gần cầu Mụ Kề, sát bờ sông
Nhật Lệ, giới hạn bởi đườøng Bờ Sông, đường Tam Ṭa và khuôn viên
của nhà ông Nguyễn Phi Long. Trường quay mặt về hướng Nam, xây cất
bằng đá tổ ong, có nền rất cao, có mái lợp ngói móc Nam Định. Trường
gồm 5 pḥng ốc rộng răi có cử kiếng sáng sủa, vừa dùng làm lớp học
và văn pḥng. Niên khóa đó chỉ dạy đến sau Tết Đinh Hợi
(1947) th́
đóng cửa v́ có lệnh “tiêu thổ kháng chiến”... “vườn không nhà trống”.
(ngưng trích)
Theo chỗ chúng tôi tra cứu, dân làng Tam Ṭa hầu hết sống bằng nghề
biển. Nơi đây có những nhà sản xuất nước mắm lớn, ngon nôåi tiếng
của các cụ Hoàng Thừa, Hoàng Nguyệt. Đặc biệt là hăng Nước Mắm Cá
Vàng của cụ Nguyễn Phi Long. Ngoài việc sản xuất tại Tam Ṭa rồi
được chuyên chở ra Hà Nội, sau nầy v́ nhu cầu tiêu thụ của xứ Hà
Thành lên cao, cụ đă thiết lập một hăng chế tạo nước mắm ngay tạo Ô
Cầu Giấy, nhưng cá được mang từ Tam Ṭa ra Hà Nội. Văn pḥng hăng
được đặt tại 7 Phố Tràng Tiền
(trước mặt Nhà Hát Lớn Hà Nội. Nghề
đúc đồng của cụ Nguyễn Thi cũng nổi
tiếng khắp miền Trung. Tam Ṭa c̣n có những tay vơ nghệ rất cao
cường.
Lănh vực nầy:
Hoàng Minh Hùng viết trong cuốn “Tam Ṭa Quê Tôi”:
| 
(Tam Ṭa ngập
lụt năm Th́n. |
Theo ông Hoàng Minh Hùng hiện ở
Ohio, khoảng những năm đầu của thập niên 40, có 5 người vơ nghệ nổi
tiếng của Tam Ṭa được gọi là « Ngũ Hổ Tam Ṭa » là Nguyễn Mầu,
Nguyễn Diêu, Nguyễn Vinh, Hoàng Minh Chiếu và Nguyễn Đề. Nguyễn Mầu
khoảng năm 1938-1940 lưu lạc vào Đà Lạt, nhờ gặp một thầy Tầu giỏi
vơ nghệ truyền cho. Về sau Nguyễn Mầu truyền lại cho đám bạn bè kể
trên. Học tṛ của Nguyễn Mầu rải rác khắp các làng Công Giáo ở Quảng
Trị như Dương Lộc, An Lộng, Bố Liêu... Về sau Nguyễn Mầu làm cận vệ
cho Trung tướng Nguyễn Ngọc Lễ
(người Duy Xuyên, vợ là bà Thanh Độ,
sinh quán Quảng B́nh). Rút kinh nghiệm từ việc giáo xứ Sáo Bùn bị
quân Văn Thân đốt phá năm 1886, nhóm « Ngũ Hổ Tam Ṭa » này quyết
biến làng Đồng Mỹ thành vùng đất bất khả xâm phạm, v́ làng Phú Ninh
ở bên cạnh vẫn thường hay có những hành động khiêu khích, muốn gây
hấn. Trong số các tay vơ nghệ cao cường này có Hoàng Minh Chiếu là
khá kiệt hiệt.
(Dân làng cứu lụt năm
1950)
Nói chuyện về « Ngũ Hổ Tam Ṭa
», người địa phương cũng hay nhắc đến trận tỉ thí vơ đài tại Đồng
Hới năm 1951 giữa một tay vơ vô địch huyện Lệ Thủy với Nguyễn Diêu.
Theo lời ông Nguyễn Sún
(bố của anh Nguyễn Năm tức Maru, một Hạ sĩ
quan Hải quân QLVNCH, người làng Đồng Mỹ), khi hai người vừa thượng
đài, địch thủ chưa kịp ra quyền th́ Nguyễn Diêu đă nhẹ tung một cước
trúng vào huyệt cự quan, người kia ngă vật xuống sàn ngay. Sau nhóm
Ngũ hổ này, một số khác được đào tạo từ ḷ Nguyễn Mầu như Nguyễn Tề,
Nguyễn Sửu, Nguyễn Chính, Nguyễn Thường và Phạm Văn Kiễng
(em bà
Phạm Thị Th́n, đi theo kháng chiến sau bỏ về năm 1953)
cũng là những
tay vơ nghệ hơn người, tuy không được xuất sắc như nhóm đàn anh nói
trên.
Nguyễn Phi Thọ viết về nét đẹp của Tam Ṭa:
Tam Ṭa! Làng tôi.
Bây giờ ở Mỹ, tuổi đă lớn, tôi nh́n lui lại 53 năm về trước, tôi mới
thấy làng tôi đẹp, quá đẹp. Làng tôi như một bức tranh thật tuyệt
vời với non xanh nước biếc, sơn thủy hữu t́nh. Cách đây 53 năm, v́ ở
lứa tuổi chúng tôi thời đó c̣n quá nhỏ, nên không nh́n ra được cái
đẹp của làng. Làng nằm cạnh một ḍng sông thật thơ mộng, nơi tiếp
giáp cuối ḍng sông Nhật Lệ với biển rộng bao la. Đứng trong làng có
thể nh́n thấy cửa biển Thái B́nh Dương
(biển Đông Hải) có nước xanh
như ngọc bích, cát trắng như tuyết, nằm phơi ḿnh rực rỡ, lóng lánh
dưới ánh mặt trời , Nh́n về hướng Tây là dăy Trường Sơn trùng điệp,
những đỉnh núi cao như chọc thẳng lên bầu trời xanh thẳm. Mỗi buổi
sáng nh́n sương trắng bay lững lờ giữa sườn núi đẹp như một bức
tranh Tàu. Và c̣n biết bao nhiêu thắng cảnh đẹp thiên nhiên ở quanh
làng, tiếc thay chúng tôi chưa bao giờ được tới.
Ngôi thánh đường cổ Tam Ṭa được xây theo kiểu thời Trung cổ Bồ Đào
Nha nằm bên bờ sông Nhật Lệ, những rặng phi lao rũ lá, những hàng
phượng vỹ đỏ rực bên ḍng sông nước xanh như ngọc khi mùa hè đến, là
biểu tượng cho một trong những h́nh ảnh xóm đạo Việt Nam thật đẹp,
thật êm đềm và thanh b́nh của những tháng năm ḥa b́nh trong qúa
khứ. Đó cũng là lư do tại sao chính quyền Quảng B́nh quyết tâm biến
thánh đường Tam Ṭa thành một nơi “gọi là di tích tội ác chiến
tranh”. Nhưng thực chất là họ sẽ biến địa danh nầy thành một nơi du
lịch thu hút nhiều du khách khắp thế giới về đây. Bên kia sông Nhật
Lệ đă là một Trung tâm Resort có tầm vóc quốc tế để yểm trợ cho kế
hoạch nầy.
(Mộ ngôi nhà lớn trong làng bị CS đốt cháy sau khi tiến
vào làng năm 1954. H́nh trên)
Và anh cũng trích dẫn một đứa con Tam Ṭa rất nổi tiếng trong cuốn
“Quảng B́nh 900 năm nh́n lại của NĐC”: Thi sĩ Hàn Mạc Tử:
“Hàn Mạc Tử tức Trần Trọng Trí sinh giờ th́n ngày 22 tháng 9 năm
1912 tại làng Lệ Mỹ, tổng Vơ Xá, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng B́nh.
(Phường Đồng Mỹ có một lịch sử lâu dài với các tên làng Lệ Mỹ rồi
đổi ra họ giáo Động Hải, giáo xứ Sáo Bùn rồi giáo xứ Tam Ṭa). Ông
chịu phép Rữa Tội ngày 25 tháng 9 năm 1912 tại nhà thờ Tam Ṭa
(Đồng
Hới) với tên thánh là Phanxicô, bố đỡ đầu là Giuse Trần Phan
(1883-1948) là phó xứ Tam Ṭa từ 1912-1927. Thân sinh nhà thơ là cụ
Vinhsơn Nguyễn Văn Toản. Lúc sinh Nguyễn Trọng Trí, ông cụ đang làm
Chủ Sự Sở Thương Chánh Nhật Lệ ở Đồng Hới. Thân mẫu là bà Maria
Nguyễn Thị Duy, con gái thứ 9 của cụ Nguyễn Long, ngự y triều vua Tự
Đức (bà cụ mất năm 1951 tại G̣ Bồi, B́nh Định. Thọ 71 tuổi). Cụ Toản
vốn ḍng họ Phạm, con ông Phạm Bồi, cháu nội ông Phạm Chương quê ở
Thanh Hóa. V́ vướng vào chuyện quốc sự nên ông Phạm Bồi phải trốn
vào Thừa Thiên và đổi ra họ Nguyễn. Khi đến tuổi đi học, ông Toản
được thân phụ nhờ cụ Nguyễn Hữu Bài xin cố Đồng, một linh mục người
Pháp, cho đi tu để làm linh mục. Ông Toản đă lên Đại Chủng Viện,
chức Tư, sau đó hoàn tục và ra làm việc cho ṭa Sứ ở Huế và Hội An
rồi qua làm sở Thương Chánh. Mẹ của Hàn Mạc Tử là người Duy Xuyên,
Quảng Nam. Nguyễn Trọng Trí đi nhiều nơi theo cha và học tại nhiều
trường: năm 1926 ông học ở Qui Nhơn, 1928 học trường Pellerin Huế,
từ năm 1932-1933 làm sở Đặc Điền Qui Nhơn. Nhờ người anh đầu là
người rất giỏi về thơ Đường luật hướng dẫn động viên, Hàn Mạc Tử làm
thơ vào tuổi 15 lấy hiệu Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh
(ghép
chữ đầu Lệ Mỹ và chữ đầu Thanh Tân).
(Quảng B́nh 900 năm nh́n lại.
NĐC)
Bây giờ, sau 53 năm, tôi trở về thăm lại làng xưa. Tôi biết trở về
lúc nầy cũng chẳng c̣n nh́n đâu vào đâu. H́nh ảnh làng quê lối cũ,
mái trường thân yêu, ngôi thánh đường nay đă bị rêu phong phủ kín...
nhưng chắc chắn những kỷ niệm êm đềm thuở ấu thơ vẫn c̣n đó, c̣n
kia. Nước sông Nhật Lệ vẫn êm đềm chảy như ḍng nước mắt của người
Tam Ṭa đang sống nơi đất lạ xứ người, ḥa chung cùng nước mắt của
con dân Tam Ṭa đang tuôn trào v́ những đợt tấn công ào ạt, dă man
đang xảy ra trên mảnh đất Tam Ṭa hiện nay.
(Bức h́nh cuối cùng tác giả đứng với thân phụ trước khi bỏ làng vào
Nam 1954.).
Giáo xứ Tam Ṭa trước đây thuộc địa phận Huế,
nhưng mấy năm sau nầy được sát nhập vào địa phận Vinh. Tam Ṭa đang
trải qua một biến động mà cả thế giới đang nh́n vào. Người dân Tam
Ṭa triền miên qua hơn hai thế kỷ phải lănh chịu bao tang thương v́
vận đời lẫn vận đạo. Hết chạy trốn bắt đạo thời Văn Thân về sống yên
b́nh bên ḍng sông Nhật Lệ; chưa được bao lâu lại phải chạy trốn
Cộng sản sau hiệp định Genève 1954 vào Đà Nẵng. Nơi đây cũng chưa
phải là đất bền lâu cho con dân Tam Ṭa. Biến cố 30 tháng Tư 1975,
quân phương Bắc một lần nữa chiếm trọn miền Nam, đẩy người dân Tam
Ṭa chạy tán loạn. Người c̣n lại trong nước, kẻ băng rừng vượt biển
ra ngoài nước làm thân vong quốc. Hiện nay dân làng Tam Ṭa sống tụ
tập khá đông tại thành phố Portland, Oregon.
Bây giờ, thế hệ thứ ba, trận chiến cuối cùng của những đứa con Tam
Ṭa lại phải trực diện với bạo lực, một đối thủ mà họ không thể
đương đầu bằng vũ khí nhưng bằng niềm tin và ḷng kiên tŕ quả cảm.
Đầu ông trùm họ đạo Tam Ṭa: Thánh Mathêo Phượng đă rơi và máu đă đổ
dưới triều vua Tự Đức. Nước mắt con dân Tam Ṭa đă chảy sau hai lần
chạy trốn Cộng sản Việt Nam. Bây giờ lại phải chịu đựng nhiều thảm
khốc giết đạo dưới thời vua Cộng sản Nguyễn Minh Triết . Ai sẽ cứu
họ trong cuộc chiến cuối cùng nầy? Thiên Chúa hay Vatican?
Hoàng Sơn
|