HUYỀN THOẠI HOÀN KIẾM

 


Người Việt Nam ai cũng nh́n thấy giữa hồ Gươm bàng bạc sương mù quá khứ một câu chuyện nhiều dị bản. Tựu chung là : “Thuở hàn vi, Lê Lợi nhặt được thanh kiếm cổ quư giá có khắc hai chữ triện THUẬN THIÊN. Ông mang nó bên ḿnh suốt cuộc kháng chiến cam go giành độc lập cho dân tộc, cởi bỏ ách đô hộ giặc Minh. Ngày thái b́nh đến, trong một lần ngồi thuyền rồng du ngoạn giữa hồ Lục Thủy, rùa thần đă nổi lên đ̣i Lê Lợi trả lại gươm thiêng..

Nh́n từ nhiều góc độ dân gian, câu chuyện lung linh tầng tầng lớp lớp vẻ đẹp huyền ảo. Những người kinh viện lại diễn tả cực kỳ đa nghĩa : Trần Quốc Vượng và Vũ Tuấn Sán (Hà Nội ngh́n xưa, Sở Văn Hóa Thông Tin Hà Nội, 1975, tr.39-40) t́m hiểu rất sâu xa ư nghĩa hồ Hoàn Kiếm[1]:

"Sử Lư-Trần hầu như chẳng nói đến hồ Gươm (…).

"Chuyện "Trả gươm thần ", người Hà Nội nghe kể đă nhiều, song ư nghĩa câu chuyện th́ chưa mấy ai đào sâu t́m hiểu. Trên đại thể, người ta cho truyền thuyết ấy kể việc Lê Lợi được gươm thần đề chữ "Thuận Thiên" từ nước : ư trời trao sứ mệnh cho người anh hùng đứng lên xướng nghĩa cứu dân, giúp nước, quét giặc ngoại xâm. Mười năm khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, người anh hùng lên làm vua, đi thuyền trên hồ, trời sai Rùa Vàng hiện lên lấy lại thanh gươm. Chủ đề bất tuyệt : "Chiến tranh và Ḥa b́nh"…

"Thực ra đấy là vang bóng của một mẫu đề thần thoại và một lễ tiết cổ xưa. Nếu về mặt chính trị-xă hội, thanh gươm là biểu tượng của quyền uy th́ về mặt thần thoại-lễ thức, thanh gươm là biểu tượng của Tia chớp-Lửa. (…) Nhúng gươm xuống nước là nghi lễ biểu thị sự ḥa hợp Nước-Lửa, một nghi lễ phồn thực. Lại v́ gươm là tượng trưng của chớp lửa nên nghi lễ nhúng gươm xuống nước cũng là một nghi lễ chống lụt (…).

"Sự tích hồ Gươm-gắn liền với một vị anh hùng lịch sử Lê Lợi-là sự diễn tả về mặt thần thoại một lễ nghi cổ xưa chung cho cả vùng Đông Nam ÿ : nghi lễ chống lụt và cầu mong sự hài ḥa của non nước …".


***
Trước thời Lê, hồ gươm vốn là một khu đầm lầy rộng và không sâu lắm, có cửa thông ra sông Hồng. Có lẽ Lê Lợi đă cho nạo vét, đắp đập, biến đầm lầy thành một cái hồ rồi bắt rùa từ Lam Kinh, Thanh Hoá về thả[2].

Ngược ḍng lịch sử ta thấy : Năm 1400, Hồ Quư Ly thoán ngôi họ Trần, đổi tên nước và tiến hành cải cách. Tuy nhiên sự nghiệp của ông không thành. Một mặt quư tộc Trần nổi lên khắp nơi, cầu viện nhà Minh phục quốc. Lẽ nữa là dân Việt mông muội, cứ khư khư thờ vua cũ, không coi họ Hồ ra ǵ. Năm 1407, nhà Minh triệt được họ Hồ, sát nhập An Nam vào đế quốc Trung Hoa. Năm 1418 Lê Lợi khởi nghiệp. Trong quá tŕnh kháng chiến chống Minh giành lại độc lập ông đă áp dụng nhiều chính sách quân sự, chính trị rất khôn khéo trên cơ sở biết người biết ta. Việc cầu phong cho Trần Cao làm An Nam quốc vương, gửi cống vật và dàn ḥa với Minh đế là kế sách nhất thời quan trọng.

Vậy là sau 10 năm đằng đẵng nằm gai nếm mật, Lê Lợi lại ở vào vị thế giống Hồ Quư Ly trước đây. Phải chăng v́ vậy mà truyền thuyết “Hoàn kiếm" được thêu dệt ?
Nếu các nghiên cứu về rùa đă dẫn hoàn toàn đúng, rơ ràng Lê Lợi đă ra lệnh hoặc ủng hộ việc ngăn hồ, thả rùa. Do đó không có lư do ǵ để nghi ngờ Lê Lợi cũng can dự vào cuộc xây dựng màn kịch trả gươm.

Cho dù huyền thoại “hoàn kiếm" ra đời trên bất cứ nền tảng văn hóa nào, mục đích duy nhất và cuối cùng của nó vẫn là hợp thức hóa, chính thống hóa sự ra đời của Lê triều. H́nh ảnh rùa thần mang tính chất siêu nhiên, nó là bản sao của “Thăng long" thời Lư Công Uẩn, và xa lạ với khái niệm “thiên tử - con trời" trong triết lư Khổng giáo. Điều này chứng tỏ xă hội Việt Nam khi đó vẫn c̣n hơi hớm thần quyền lạc hậu. Để lấy ḷng dân, Lê Lợi phải làm cho họ tin tưởng rằng ḿnh có sự hậu thuẫn của các lực lượng siêu nhiên.

Nếu nh́n nhận lịch sử là sự vận động đa chiều của xă hội, thời điểm ra đời của huyền thoại Hồ gươm chính là bước ngoặt đáng lưu ư. Từ đó về sau, những truyền thuyết hoang đường như vậy vẫn c̣n xảy ra nhưng ở mức độ cường điệu khá thấp, và tác dụng ngày càng hạn hẹp. Nó chỉ ra chiều hướng thượng của dân trí.

Thư tịch:

1. Đại Việt Thông sử - Lê Quư Đôn – 1759

2. Lam Sơn thực lục – Nguyễn Trăi – 1431

3. Keith Taylor – Quyền uy và tính chân chính ở VN thế kỷ 11 – NXB Trẻ, Sài G̣n 2001

[1] Dẫn theo www.chimviet.free.fr/13/nds0053.htm

[2] Xin đọc thêm : www.vnexpress.net/Vietnam/Khoa-hoc/2002/05/3B9BBCBB

 


 

Hồ Hoàn Kiếm
Nguyễn Dư



 

Hồ Hoàn Kiếm, tháp Rùa và đền Ngọc Sơn là một cụm thắng cảnh nổi tiếng của Hà Nội mà có lẽ người Việt Nam nào cũng biết. Biết tận mắt hay biết qua sách báo, màn h́nh.
 

Sự tích hồ Hoàn Kiếm


Truyền thuyết kể rằng Lê Lợi được trời cho thanh bảo kiếm, đứng lên dẹp giặc Minh. Dẹp giặc xong, Lê Lợi lên làm vua. Một hôm, vua Lê Thái Tổ dạo thuyền trên hồ, bị một con Rùa Vàng lấy lại thanh kiếm. Từ đó hồ có tên là hồ Hoàn Kiếm.

Truyền thuyết đẹp và giản dị. Chỉ có ba nhân vật là Lê Lợi, thanh kiếm và con rùa. Thế mà các văn bản cũng không thống nhất.

Sách Tang thương ngẫu lục soạn từ đời Gia Long (1802-1819), kể chuyện Hồ Hoàn Kiếm như sau:

"Hồ Hoàn Kiếm ở bên cạnh phường Báo Thiên, thành Thăng Long, thông với nước ngoài sông, h́nh thể rất to rộng. Hồ này là nơi đức Thái Tổ Hoàng Đế (triều trước) đánh rơi thanh kiếm.

Hồi Thái Tổ khởi nghĩa, ngài bắt được một thanh gươm cổ. Khi làm vua, ngài thường vẫn đeo thanh gươm đó. Một hôm chơi thuyền ở trong hồ, chợt thấy một con ba-ba rất lớn nổi lên mặt nước, bắn nó không trúng. Ngài bèn lấy thanh gươm mà chỉ. Bất đồ, thanh kiếm rơi xuống nước mất, con ba-ba cũng lặn theo. Ngài giận, sai lấp cửa hồ lại, đắp cái bờ ngang, tát hết nước để t́m, nhưng chẳng thấy đâu cả. Đời sau nhân cái vết bờ ấy chia hồ ra làm hai: tả vọng, hữu vọng. Cuối đời Cảnh Hưng, bỗng có một vệt sáng từ cái đảo trong hồ vọt lên cao, sáng rực tan ra rồi tắt, người ta cho là thanh bảo kiếm bay đi " (Phạm Đ́nh Hổ, Nguyễn ÿn, Tang thương ngẫu lục, bản dịch của Đạm Nguyên, Đại Nam, tr. 181).

Năm 1873, Phạm Đ́nh Bách vẽ Bản đồ Hà Nội. Đến năm 1916 nhà nước bảo hộ Pháp cho in tấm bản đồ này, kèm thêm một trang ghi chú bằng tiếng Pháp. Lời chú không nằm cùng với bản đồ, nên không biết có phải chính Phạm Đ́nh Bách là tác giả không?

"Lorsqu'il était encore étudiant, le roi Lê Thái Tổ trouva un jour sur le bord du petit lac une épée et s'en empara. Plus tard, comme roi d'Annam, se promenant en barque sur ce même lac, une énorme tortue sacrée sortit de l'eau et vint à lui, saisi de crainte le roi voulut l'éloigner avec l'épée trouvée; la tortue la lui prit et disparut. C'était une tortue génie ( de là le nom de Hồ Hoàn Kiếm )".

( Trong thời gian c̣n đi học, một hôm vua Lê Thái Tổ bắt được một thanh kiếm tại bờ hồ. Sau này, khi ngài đă lên làm vua, một hôm bơi thuyền dạo chơi trên hồ, có con rùa rất lớn nổi lên và bơi về phía ngài. Nhà vua sợ, rút kiếm đuổi rùa. Con rùa đớp thanh kiếm và lặn xuống nước. Đây là một con rùa thần. Từ đó đặt tên hồ là hồ Hoàn Kiếm) (Hanoi, Les cahiers de l' Ipraus, 2001, tr. 98-99).

Phạm Đ́nh Bách (hoặc người nào khác) cho biết trước khi phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, Lê Lợi có theo học tại Đông Đô (Hà Nội ngày nay) và đă bắt được thanh kiếm tại Bờ Hồ.

Hai chi tiết này không ăn khớp với chính sử.

Theo cả hai bản Lam Sơn thực lục hiện có, bản do chính Lê Thái Tổ viết (Nguyễn Diên Niên, Lê Văn Uông, Lam Sơn thực lục, Ty Văn Hoá Thanh Hoá, 1976, tr. 239) và bản đă bị Hồ Sĩ Dương sửa đổi (Viện Sử Học, Nguyễn Trăi toàn tập, Khoa Học Xă Hội, 1976, tr. 46-47), th́ trước ngày khởi nghĩa Lê Lợi làm phụ đạo ở Khả Lam (Lam Sơn).

Lam Sơn thực lục kể chuyện Lê Thận ở Mục Sơn (Thanh Hóa), làm nghề đánh cá, một hôm quăng lưới kéo lên được một lưỡi kiếm. Lê Lợi đánh đổi được lưỡi kiếm này. Một hôm khác Lê Lợi bắt được một chuôi kiếm ở gốc cây đa. Lắp lưỡi kiếm vào chuôi th́ thấy vừa khít. Lê Lợi nghĩ rằng trời đă trao cho ḿnh thanh bảo kiếm, từ đó mới nuôi ư khởi nghĩa.

Chưa thấy văn bản nào khác của ta nói rằng Lê Lợi theo học hoặc có mặt tại Đông Đô trước ngày khởi nghĩa.

Chung quanh hồ Hoàn Kiếm c̣n nhiều truyền thuyết khác.

"Vua Lê Lợi khi mới khởi binh gặp được một ngọn gươm thần. Nhờ đó mà làm nên sự nghiệp. Sau ra chơi tại hồ đó, có con quái đón đầu thuyền. Vua lấy gươm đâm, con quái hả miệng nuốt mất ngọn kiếm. Vua Lê Lợi suy từ đó" (Diên Hương, Thành ngữ điển tích, Phương Lai, 1954).

Diên Hương không đả động tới rùa thần mà chỉ nói tới một con quái nuốt mất gươm thần.

Theo chính sử th́ Lê Lợi làm vua được 6 năm (1428-1433), thanh thế đương thời rất lớn. Đến mấy đời vua sau Lê Lợi, nhà Lê mới bắt đầu suy.

"Un beau jour de 1418, une tortue d' or surgie du lac lui tendit une magnifique épée. Il y vit un signe du ciel et partit libérer le pays. Sa mission accomplie, il revint sur les lieux de son initiation pour offrir un sacrifice de gratitude à la divinité lacustre. Au moment où la cérémonie commençait, un puissant coup de tonnerre retentit; l' épée jaillit de son fourreau, tournoya en l'air et retomba dans le bec de la tortue d'or qui s'enfuit dans les profondeurs du lac, appelé depuis lors le lac de l'Épée restituée (Hoàn Kiếm)".

(Một ngày năm 1418, một con rùa vàng nổi lên trên mặt hồ và dâng (Lê Lợi) một thanh gươm báu. Ngài biết đây là mệnh trời bèn đứng lên giải phóng non sông. Khởi nghĩa thành công, ngài đến nơi được thần giúp để làm lễ tạ ơn. Đúng lúc cuộc lễ bắt đầu, một tiếng sét nổ vang trời; thanh kiếm của ngài tuột khỏi vỏ, quay vần vũ trên trời rồi rơi vào miệng một con rùa vàng. Rùa lặn sâu xuống đáy hồ. Từ đó hồ được gọi là Hồ Hoàn Kiếm)

(Philippe Papin, Histoire de Hanoi, Fayard, 2001, tr. 115).


Ư kiến của Papin tương tự như lời chú của tấm bản đồ Phạm Đ́nh Bách.

Khởi nghĩa Lam Sơn bắt đầu năm 1418, Lê Lợi và các đồng chí của ông đang gặp nhiều khó khăn ở vùng Lam Sơn. Lê Lợi không thể có mặt ở bờ hồ để nhận kiếm thần được.

Trong một cuốn sách khác Philippe Papin lại kể rằng:
"Il (le lac de Hoàn Kiếm) doit son nom à la légende selon laquelle Lê Lợi y aurait pêché une épée magique; muni de cette arme, il chassa les Chinois Ming et fonda, sous le nom de règne de Lê Thái Tổ, la dynastie des Lê postérieurs (1428-1788). Au cours de la cérémonie qu'il offrit à l'occasion de sa victoire, l'épée miraculeuse jaillit d'elle-même du fourreau et se métamorphosa en un dragon de jade qui disparut dans le lac. D'autres versions attribuent à une tortue le soin d 'offrir et de reprendre l'épée".

(Tên (hồ Hoàn Kiếm) do truyền thuyết kể rằng Lê Lợi bắt được một thanh kiếm thần tại đây. Với thanh kiếm này Lê Lợi đă đánh đuổi được quân Minh và lên làm vua lấy hiệu là Lê Thái Tổ, lập ra nhà Hậu Lê (1428-1788). Trong buổi lễ mừng chiến thắng, thanh kiếm thần của vua Lê Thái Tổ bỗng tuột khỏi vỏ, hoá thành con rồng ngọc, rồi lặn biến trong hồ. Cũng có người cho rằng Lê Thái Tổ được một con rùa trao cho và lấy lại thanh kiếm thần) ( Docteur Hocquard , Une campagne au Tonkin, Arléa, 1999, tr. 232 ).

Ở đoạn trên, Lê Thái Tổ trả kiếm cho Rùa vàng. Ở đoạn sau, thanh kiếm tự biến thành Rồng ngọc rồi lặn xuống hồ.

Trần Quốc Vượng và Vũ Tuấn Sán (Hà Nội ngh́n xưa, Sở Văn Hóa Thông Tin Hà Nội, 1975, tr.39-40) t́m hiểu rất sâu xa ư nghĩa hồ Hoàn Kiếm:
"Sử Lư-Trần hầu như chẳng nói đến hồ Gươm (…).

"Chuyện "Trả gươm thần ", người Hà Nội nghe kể đă nhiều, song ư nghĩa câu chuyện th́ chưa mấy ai đào sâu t́m hiểu. Trên đại thể, người ta cho truyền thuyết ấy kể việc Lê Lợi được gươm thần đề chữ "Thuận Thiên" từ nước : ư trời trao sứ mệnh cho người anh hùng đứng lên xướng nghĩa cứu dân, giúp nước, quét giặc ngoại xâm. Mười năm khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, người anh hùng lên làm vua, đi thuyền trên hồ, trời sai Rùa Vàng hiện lên lấy lại thanh gươm. Chủ đề bất tuyệt : "Chiến tranh và Ḥa b́nh"…

"Thực ra đấy là vang bóng của một mẫu đề thần thoại và một lễ tiết cổ xưa. Nếu về mặt chính trị-xă hội, thanh gươm là biểu tượng của quyền uy th́ về mặt thần thoại-lễ thức, thanh gươm là biểu tượng của Tia chớp-Lửa. (…) Nhúng gươm xuống nước là nghi lễ biểu thị sự ḥa hợp Nước-Lửa, một nghi lễ phồn thực. Lại v́ gươm là tượng trưng của chớp lửa nên nghi lễ nhúng gươm xuống nước cũng là một nghi lễ chống lụt (…).

"Sự tích hồ Gươm-gắn liền với một vị anh hùng lịch sử Lê Lợi-là sự diễn tả về mặt thần thoại một lễ nghi cổ xưa chung cho cả vùng Đông Nam ÿ : nghi lễ chống lụt và cầu mong sự hài ḥa của non nước …".


Đúng là thời Lư-Trần không có ai nói đến hồ Gươm v́ nơi đây c̣n là vùng hồ ao đầm lầy. Hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm theo truyền thuyết đến đời Lê Thái Tổ mới có.

Chủ đề "chiến tranh và ḥa b́nh", "nghi lễ phồn thực", "nghi lễ chống lụt" của Trần Quốc Vượng và Vũ Tuấn Sán thật là đa dạng, phong phú. Tuy nhiên, một truyền thuyết dân gian mà có ba lối giải thích thuộc ba lĩnh vực khác nhau th́ có nhiều quá không? Hay là qua biểu tượng Lê Lợi trả gươm thần, cũng như biểu tượng Thánh Gióng cưỡi ngựa sắt bay về trời sau khi dẹp giặc Ân, dân gian chỉ muốn ca tụng người anh hùng cầm gươm đánh giặc, giặc tan th́ cất gươm đi?

Từ giữa thế kỉ 17, Trịnh Tạc xây phủ chúa Trịnh riêng, tách ra khỏi cung điện của vua Lê trong thành Thăng Long. V́ hồ Hoàn Kiếm nằm về bên trái phủ chúa nên gọi là hồ Tả Vọng (Bùi Thiết, Từ điển Hà Nội-địa danh, Văn Hóa Thông Tin, 1993, tr. 393).

Dưới thời các chúa Trịnh, thế kỉ 17-18, hồ Hoàn Kiếm có tên là hồ Thuỷ Quân v́ các chúa Trịnh thường diễn tập quân thuỷ trong khu vực hồ (Bùi Thiết, sđd, tr. 435). Có thuyết nói rằng tên hồ Thuỷ Quân đă có từ đời Trần.

Nhưng, bản đồ của Phạm Đ́nh Bách (1873, đời Tự Đức) lại cho thấy hồ Hoàn Kiếm và hồ Thuỷ Quân là hai hồ khác nhau:
-Lac de Thuỷ Quân sur lequel les marins du Roi s'exerçaient à la manoeuvre des armes (Hồ Thuỷ Quân là nơi lính thuỷ của nhà vua tập trận ).

Một tấm bản đồ khác do Biệt Lam vẽ năm 1956, phỏng theo bản đồ năm 1866 và 1873, cũng cho thấy hồ Thuỷ Quân và hồ Hoàn Kiếm là hai hồ khác nhau, cách nhau khá xa (Hanoi, sđd, tr.80).


Điều này có thể được hiểu là:

Đời Trịnh, hồ Hoàn Kiếm được chia thành hồ Tả Vọng và Hữu Vọng. Đời Tự Đức (1847-1883), hồ Tả Vọng được gọi là hồ Hoàn Kiếm, hồ Hữu Vọng được gọi là hồ Thuỷ Quân

Bắt đầu từ năm 1884 nhà nước bảo hộ Pháp giữ lại hồ Hoàn Kiếm, lấp dần hồ Thuỷ Quân để xây dựng, mở mang thành phố Hà Nội.

Hồ Hoàn Kiếm ngày xưa c̣n có tên là Lục Thuỷ, Hàng Hương (Hoàng Đạo Thúy, Đi thăm Đất Nước, Văn Hóa, 1978, tr. 55).
 

 

Tháp Rùa

 

Bảng chú bản đồ Phạm Đ́nh Bách cho biết:
- Đ́nh chúa Trịnh: Pagode élevée sous les Lê à la mémoire des Trịnh (đ́nh chúa Trịnh được xây dưới thời Lê để tưởng nhớ các chúa Trịnh).

Đ́nh chúa Trịnh nằm tại địa điểm tháp Rùa.

Nguyễn Khắc Ngữ cũng đồng ư với Phạm Đ́nh Bách: "Một trong những kiểu kiến trúc thời Lê c̣n để lại là tháp Rùa hồ Hoàn Kiếm" (Nguyễn Khắc Ngữ, Mỹ thuật cổ truyền, theo bài Tháp Rùa có từ khi nào? của Nguyên Thắng, Đoàn Kết, tháng tư, 1984).

Bùi Thiết cho biết:
"Ṭa tháp tọa lạc trên g̣ Rùa xế về phía nam hồ Hoàn Kiếm, nên gọi là tháp Rùa. Nguyên là đ́nh Tả Vọng do các chúa Trịnh dựng trên g̣ Rùa giữa hồ Tả Vọng, gọi là đ́nh Tả Vọng. Cuối thế kỷ XVIII v́ tin thuyết phong thuỷ, Bá hộ Kim nhận sửa lại đ́nh Tả Vọng để nhân đó táng hài cốt cha mẹ xuống dưới; Việc không thành, nhưng đ́nh Tả Vọng vẫn được sửa lại để có quy cách như hiện nay" (sđd, tr. 383).

"Ngôi đ́nh do các chúa Trịnh sai xây trên g̣ Rùa giữa hồ Tả Vọng (tức hồ Hoàn Kiếm) để làm nơi hóng mát và duyệt quân thuỷ. V́ đ́nh nằm trong hồ Tả Vọng nên có tên gọi. Cuối thế kỷ XIX Bá Kim xin được xây thêm một tầng trên ṭa đ́nh Tả Vọng để có quy mô nh
ư tháp Rùa ngày nay" (sđd, tr. 393-394).

Tiền thân của tháp Rùa là đ́nh Tả Vọng.

"Cái đ́nh này làm từ đời Trịnh Căn (chúa thứ tư trong ḍng họ Trịnh) là một lầu hai tầng, tầng trên là một cái lầu vuông bốn mái cong có đắp bốn con rồng ḅ quay đầu lại…Lầu quay lưng hướng nam theo ư nghĩa làm vua quay mặt về phương nam, không chầu lại vua, không thần phục vua Lê, v́ vậy bên trên cửa có để ba chữ Tả Vọng Đ́nh". (Chu Thiên, Bóng nước hồ Gươm, theo Nguyên Thắng, sđd).

Nhưng, một bài Hồ Hoàn Kiếm khác của sách Tang thương ngẫu lục (sđd, tr. 32-33) kể rằng:

"Mùa hạ năm Bính Ngọ, niên hiệu Cảnh Hưng (1786), đương nửa đêm, giữa hồ Hoàn Kiếm, bỗng có những vật đỏ ối hiện ra trên đảo, tia sáng nhoáng tỏa ra bốn phía, bay về bờ phía nam rồi biến mất.

Sau đó sóng gió ầm ầm nổi lên? Sáng hôm sau, thấy xác tôm cá nổi trên mặt nước không biết bao nhiêu mà kể. Có người nói, ở trên nóc nhà Trung Ḥa Đường trong phủ Chúa cũng hiện ra những vật tương tự, ánh sáng tỏa ra tứ phía, rồi tự nhiên tắt ngấm.

Sau đó ít lâu, nhà Lê mất nước".


Nguyễn Khắc Ngữ nói rằng Tháp Rùa ngày nay có từ thời Lê. Phạm Đ́nh Bách cho biết tại đảo Rùa có đ́nh chúa Trịnh được xây dưới thời Lê. Bùi Thiết và Chu Thiên cũng đồng ư rằng các chúa Trịnh đă cho xây đ́nh Tả Vọng trên đảo. Chỉ có Tang thương ngẫu lục là không nói đến công tŕnh xây cất nào trên cái đảo giữa hồ Hoàn Kiếm này. Khó có thể cho rằng các tác giả Tang thương ngẫu lục quên cái đ́nh chúa Trịnh hay cái đ́nh Tả Vọng bởi v́ trong bài có nói tới cái nhà Trung Ḥa Đường trong phủ chúa Trịnh (nằm gần hồ Hoàn Kiếm) th́ không thể không nói tới cái đ́nh do chúa Trịnh xây trên đảo Rùa, nơi đang xảy ra điềm lạ.

Hay là đ́nh đă bị đổ nát, năm 1786 không c̣n dấu vết ǵ? Giả thuyết này cũng khó đứng vững bởi v́ đ́nh do chúa Trịnh xây th́ không thể bị huỷ hoại ngay từ thời chúa Trịnh c̣n nắm quyền được.

Hay là đ́nh Tả Vọng được xây sau năm 1786 ?

Sử chép rằng Nguyễn Huệ "pḥ Lê, diệt Trịnh", năm 1786 chấm dứt chế độ cai trị của họ Trịnh. Năm 1789 Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh, lên làm vua, lập ra nhà Nguyễn Tây Sơn. Năm 1802, Nguyễn ÿnh diệt nhà Tây Sơn, lập nên nhà Nguyễn.

Nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn đều không quư mến ǵ các chúa Trịnh. Không thể có chuyện nhà Tây Sơn hay nhà Nguyễn (trong khoảng từ 1786 đến 1873) xây đ́nh để tưởng nhớ chúa Trịnh.

Tóm lại, qua hai bài Hồ Hoàn Kiếm của Tang thương ngẫu lục th́ phải thừa nhận rằng đến cuối đời Cảnh Hưng (1786, tức là năm Nguyễn Huệ chấm dứt sự nghiệp các chúa Trịnh) trên đảo Rùa không có đ́nh chúa Trịnh hay đ́nh Tả Vọng.

Nói cách khác, đ́nh Tả Vọng hay đ́nh chúa Trịnh không phải được xây tại đảo Rùa. Có thể tại một đảo khác, cũng nằm trong hồ Hoàn Kiếm.
 

 

Đảo Ngọc Sơn


"Hồ Tả Vọng tên cũ gọi Hoàn Kiếm là một danh thắng đất Kinh kỳ xưa. Phía bắc mặt hồ, một g̣ đất nổi lên rộng khoảng ba bốn sào, tương truyền là chỗ đài câu cá thời cuối Lê. Trước đây, ông Tín Trai làng Nhị Khê nhân có đền Quan Đế tại đấy bèn mở rộng sửa sang thêm gọi là chùa Ngọc Sơn (…)" (Bài kư Đền Ngọc Sơn đế quân , soạn năm1843, Tuyển tập văn bia Hà Nội, quyển 2, Khoa Học Xă Hội,1978, tr. 68-69).

"Phía đông thành Hà Nội, ở thôn Hà Thanh, huyện Thọ Xương có một cái hồ, gọi là hồ Hoàn Kiếm, trong hồ có một cái đảo, gọi là Ngọc Sơn, trong đảo Ngọc Sơn, có một đền thờ gọi là đền thờ Văn Xương. Tôi làm ÿn sát ở Hưng Yên, vừa đổi về, gặp ông Phương Đ́nh dắt nhau qua chơi, ông nói với tôi rằng : hồ Hoàn Kiếm này đời xưa rất lớn, từ đời Lê trung hưng về sau chở đất về lấp làm đường xe chạy cho suốt đến Long Lâu ở Nhĩ Hà, nửa hồ bên hữu gọi là Hữu Vọng, nửa hồ bên tả gọi là Tả Vọng, núi trong Tả Vọng là đài câu cá. Đầu niên hiệu Gia Long, mới có miếu thờ Quan Vơ đế (…).

"Hiện nay đền thờ mới đă hoàn thành, phía trước kề bờ nước, làm đ́nh Trấn Ba, ngụ ư là cột trụ đứng vững giữa làn sóng văn hóa. Bên tả, phía đông cầu Thê Húc, dựng Đài Nghiên. Lại về phía đông trên núi Độc Tôn, xây Tháp Bút, tượng trưng cho nền văn vật(…)" (Bài kư Sửa lại miếu Văn Xương, Tuyển tập văn bia Hà Nội, sđd, tr. 70-71).


Bài kí thứ nhất được soạn năm 1843 nhân dịp sửa đền Quan đế thành chùa Ngọc Sơn. ít năm sau lại đổi chùa Ngọc Sơn thành đền thờ Văn Xương. Bài kí thứ nh́ làm nhân dịp sửa đền thờ Văn Xương. Hai bài văn của hai người khác nhau, viết cách nhau vài chục năm, đều nói trong hồ Hoàn Kiếm có một cái đảo Ngọc Sơn, lớn khoảng ba bốn sào, là đài câu cá thời cuối Lê.

Điều này chứng tỏ gián tiếp rằng không phải Tang thương ngẫu lục (1802-1819) bỏ quên công tŕnh xây cất trên đảo Rùa mà chỉ v́ đến năm 1843 và măi vài chục năm sau, hồ Hoàn Kiếm vẫn chưa có xây cất ǵ trên đảo Rùa. Hai bài kí không nói tới đảo Rùa có lẽ chỉ v́ đảo nhỏ và không có ǵ đáng nói?

Hoàng Đạo Thúy cho biết:
Đền Ngọc Sơn "đời Lê là cung nghỉ mát Thuỵ Khánh của chúa Trịnh".

"Đứng ở Trấn Ba đ́nh, nh́n xa về hướng nam, trong một khung cảnh đẹp, nổi lên ngọn tháp trên đảo Rùa. Mùa đông, gặp trời nắng, những con rùa bằng cái nia lên tắm nắng trên đảo. Xưa kia trên đảo có đ́nh Tả Vọng. Cái tháp này, một nhà giàu phố hàng Khay xây từ năm 1884" (Đi thăm đất nước, sđd, tr. 55).

Chúng ta được biết thêm cung Thuỵ Khánh, nơi nghỉ mát của chúa Trịnh tại hồ Hoàn Kiếm.

Bùi Thiết gọi cung này là cung Khánh Thuỵ do Trịnh Giang (1729-1740) sai xây trên đảo Ngọc Sơn. Cung Khánh Thuỵ bị Lê Chiêu Thống cho người đốt năm 1787 để trả thù các chúa Trịnh. Về sau người ta xây đền Ngọc Sơn tại nơi đây.

Bên cạnh hồ Hoàn Kiếm, thuộc khu vực phố Bảo Khánh ngày nay, c̣n có cung điện Khánh Thuỵ do Trịnh Tùng (1570-1630) xây. Cung điện Khánh Thuỵ cũng bị Lê Chiêu Thống đốt phá trụi năm 1787 (Bùi Thiết, sđd, tr. 221).

Bản đồ Phạm Đ́nh Bách cũng có nói tới cung Khánh Thuỵ:

Cung Khánh Thuỵ : Habitation des servantes du roi Lê Thái Tổ (emplacement de la rue Jules Ferry) (Cung Khánh Thuỵ: chỗ ở của các cung nữ của vua Lê Thái Tổ, nằm tại phố Hàng Trống ngày nay).

Sách Hoàng Lê nhất thống chí (Văn Học, 1970, tr.191) kể chuyện vua Lê Chiêu Thống "ngầm sai người phóng hỏa đốt hết phủ chúa. Khi phủ cháy, khói lửa bốc lên ngút trời, hơn mười ngày chưa tắt.

"Thế là hai trăm năm lâu đài cung khuyết huy hoàng bỗng chốc đă thành ra băi đất cháy đen! Xa gần nghe thấy tin đó, ai cũng thương chúa và trách vua làm quá đáng. Hôm ấy nhằm ngày mồng 8 tháng chạp năm Bính Ngọ (1786)".

Lâu đài cung khuyết trong phủ chúa đă có từ 200 năm trước năm 1786, nghĩa là được xây vào khoảng năm 1586 ( đời Trịnh Tùng).

Bùi Thiết phân biệt cung Khánh Thuỵ trên đảo Ngọc Sơn và cung điện Khánh Thuỵ tại địa điểm phố Bảo Khánh ngày nay và cho rằng cả hai nơi đều bị đốt năm 1787. Phạm Đ́nh Bách chỉ nói tới cung Khánh Thuỵ ở phố Hàng Trống (thẳng góc với phố Bảo Khánh), có từ đời Lê Thái Tổ. Hoàng Lê nhất thống chí cho biết Lê Chiêu Thống chỉ sai đốt cung điện trong phủ chúa năm 1786, nghĩa là cung điện Khánh Thuỵ thôi.

Rất có thể cung Khánh Thuỵ được Hoàng Đạo Thuư và Bùi Thiết nói tới, và cho rằng nằm tại đảo Ngọc Sơn, là do nhầm lẫn từ cung điện Khánh Thuỵ trong phủ chúa Trịnh mà ra.

Đối chiếu các văn bản th́ thấy đời cuối Lê, địa điểm đền Ngọc Sơn c̣n là đài câu cá, chỗ hóng mát. Đ́nh Tả Vọng cũng là chỗ hóng mát, duyệt quân thuỷ của chúa Trịnh. Cho rằng đ́nh Tả Vọng (đ́nh chúa Trịnh) nằm trên đảo Rùa là chuyện khó hiểu. Đảo Rùa thời chúa Trịnh rất nhỏ (sẽ nói thêm ở phần sau), những lúc tế lễ, duyệt quân thuỷ th́ tổ chức ra sao, chỗ đâu để chứa được vài chục người? Mỗi lần hóng mát, chúa Trịnh phải đi thuyền ra giữa hồ? Nếu đ́nh nằm tại đảo Ngọc Sơn rộng lớn hơn, có cầu nối với bờ , th́ sẽ rất tiện cho việc câu cá, hóng mát, hoặc tổ chức tế lễ, duyệt quân thuỷ.

Đ́nh Tả Vọng hay đ́nh chúa Trịnh nằm trên đảo Ngọc Sơn chăng?

Rất có thể Phạm Đ́nh Bách và Bùi Thiết đă nhầm lẫn, xê dịch chỗ hóng mát, câu cá, duyệt quân thuỷù của chúa Trịnh từ đảo Ngọc Sơn sang đảo Rùa.

 


 

Tháp Rùa ngày nay

 

Bùi Thiết viết rằng Bá hộ Kim nhận sửa lại đ́nh Tả Vọng vào cuối thế kỉ 18 và xây thêm một tầng vào cuối thế kỉ 19 thành tháp Rùa ngày nay. Khoảng thời gian giữa hai lần sửa và xây thêm dài quá, một người không thể làm được. Bùi Thiết viết nhầm mất một thế kỉ?

Hoàng Đạo Thúy cũng nói đến tháp Rùa trong hoàn cảnh Hà Nội bị quân Pháp chiếm đóng kể từ năm1882.

"Bang Kim biếu Tây cái tháp Rùa. Cái tháp này nh́n măi cũng quen mắt, nhưng dưới th́ cửa lối gô-tích, trên th́ nóc vụn vặt, kiến trúc không ra lối ǵ". (Hoàng Đạo Thúy, Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội, Hội Văn Nghệ Hà Nội,1971, tr. 75).

Ở một chỗ khác, Hoàng Đạo Thúy viết rơ là một nhà giàu phố hàng Khay xây tháp Rùa từ năm 1884 (Đi thăm đất nước, sđd).


Trong chuyến đi công tác tại Bắc ḱ và Trung ḱ (từ tháng 1 năm 1884 đến tháng 4 năm 1886), bác sĩ Hocquard có chụp ảnh tháp Rùa nh́n từ phía tháp Ḥa Phong (xem trang b́a sách Histoire de Hanoi, hoặc bản khắc trong sách Une campagne au Tonkin, tr. 249).

Tấm ảnh cho thấy tháp Rùa thời đó giống tháp Rùa ngày nay. Diện tích đảo Rùa năm 1884-1886 rất giới hạn, chỉ rộng hơn mặt bằng của tháp mỗi bề độ 2 mét.

Một nhà báo Pháp đă tả Hồ Gươm năm 1898 như sau:
"Tout vert, tout tranquille, d'un charme discret, avec, au milieu, dans une île infiniment petite, sa vieille pagode d'un style étrange, et les arbres qui mirent dans ses eaux dormantes leurs frêles tiges, voici le "Petit Lac" ou "Lac de la Grande Epée".

(Hồ Gươm xanh tươi, trầm lặng và duyên dáng, có cái tháp cũ kĩ, kiến trúc lạ ḱ, xây trên một ḥn đảo nhỏ xíu giữa hồ, có những cành cây lả lơi soi bóng nước). (Les grands dossiers de l'Illustration, Le livre de Paris, 1987, tr. 93)


Chắc chắn là thời chúa Trịnh đảo Rùa cũng chỉ nhỏ xíu như vậy thôi.

Kiến trúc của tháp Rùa khá lạ ḱ, đặc biệt. "Dưới th́ cửa lối gô-tích, trên th́ nóc vụn vặt, kiến trúc không ra lối ǵ " (Hoàng Đạo Thúy). Tầng dưới cùng và tầng thứ nh́ cùng có cửa lối gô–tích. Kiến trúc gô–tích th́ phải chờ tới sau này người Pháp mới đưa sang nước ta chứ thời Lê, thời Trịnh th́ làm sao có được? Như vậy th́ hai tầng dưới cùng của tháp Rùa không thể là của đ́nh chúa Trịnh hay đ́nh Tả Vọng như Bùi Thiết cho biết được.

Kiến trúc của tháp Rùa chịu ảnh hưởng kiến trúc Pháp.

Người Pháp chỉ bắt đầu xây cất, thiết kế lại thành phố Hà Nội sau khi Triều đ́nh Huế kí ḥa ước Patenôtre ngày 6 tháng 6 năm 1884, công nhận quyền bảo hộ của nước Pháp.

Mấy cái cửa của tháp Rùa phải được ra đời sau ḥa ước Patenôtre, nghĩa là tháp Rùa được xây trong khoảng từ giữa năm 1884 đến tháng 4 năm 1886 (lúc Hocquard về Pháp). Tháp được xây toàn bộ và cùng lúc chứ không phải được xây thêm tầng vào tháp Tả Vọng đă có từ trước. Tháp Rùa không phải là kiến trúc của đời Lê.

Tấm ảnh c̣n cho thấy tầng dưới cùng của tháp Rùa có vẻ hơi cũ hơn các tầng trên. Nếu đúng như vậy th́ t́nh cờ Hocquard đă chụp được lúc người ta vừa xây xong tháp Rùa, đang quét vôi. Các tầng trên đă được quét hai ba nước, tầng dưới đang chờ được quét thêm?

Một kiến trúc nổi tiếng khác, có rất nhiều cửa lối gô–tích, là nhà thờ lớn Hà Nội (cathédrale Saint Joseph) cũng được người Pháp xây vào những năm 1884-1888.

 

 

Kết luận


Căn cứ vào một số sách và bản đồ, của ta và của Pháp, th́ có thể tạm kết luận rằng:
- Thời chúa Trịnh trên đảo Rùa chưa có xây cất.
- Đ́nh Tả Vọng (hay đ́nh chúa Trịnh) nằm trên đảo Ngọc Sơn chứ không phải trên đảo Rùa.
- Cung Khánh Thụy nằm trong phủ chúa Trịnh chứ không phải tại đảo Ngọc Sơn.
- Tháp Rùa được xây toàn bộ trong khoảng từ tháng 6 năm 1884 đến tháng 4 năm1886. Về sau, hoặc là đảo Rùa được đắp thêm đất, hoặc là nước hồ Hoàn Kiếm bị cạn dần, nhờ vậy đảo Rùa mới trở thành lớn rộng như ngày nay.

Đă có nhiều học giả nói đến hồ Hoàn Kiếm, tháp Rùa. Mỗi người thêm bớt một hai chi tiết. Có nhiều điều hay nhưng thỉnh thoảng cũng có chỗ nhầm lẫn.

Mấy ai c̣n nhớ bài Hồ Hoàn Kiếm của thời mới cắp sách đến trường ?

"Trong thành phố Hà Nội có một cái hồ gọi là hồ Hoàn Kiếm. Tục truyền rằng một hôm vua Lê Thái Tổ ngự ra câu cá ở bờ hồ, chỗ gần sở Đốc lư bây giờ, bỗng có một con rùa thật lớn nổi lên trên mặt nước. Vua lấy thanh bảo kiếm ném con rùa, th́ nó lặn xuống, rồi nó đem thanh kiếm lên trả vua. Bởi thế mới đặt tên là Hoàn Kiếm…".
( Trần Trọng Kim, Đặng Đ́nh Phúc, Đỗ Thận, Quốc văn giáo khoa thư lớp sơ đẳng, 1948, tr. 94).


Sử gia Trần Trọng Kim và đồng nghiệp đứng riêng một phe. Các ông cho rằng tên Hoàn Kiếm là do tích Rùa mang trả kiếm cho vua Lê Thái Tổ.

Lê Lợi được trời cho thanh bảo kiếm để dẹp giặc. Dẹp xong giặc, lên làm vua, trời lại cho Lê Lợi giữ luôn thanh kiếm !

Cách tŕnh bày này làm mất hết ư nghĩa cao đẹp của truyền thuyết.

 

Nguyễn Dư
(Lyon, 8/2002)