HÔ HẤP TRONG KHÍ
CÔNG
26/12/2007
Ý NIỆM VỀ KHÍ
Đối
với người Tây phương, "Khí" được hiểu bằng
những danh từ như: Energy, Vital Energy,
Life Force, Bio-Force, Electromagnetism...
Cũng như "Animal Magnetism" ở Úc châu do
Mesmer, "Odic Force" ở Đức do Baronvon
Reichenbach, "Orgone Energy" ở Mỹ do Wilhelm
Reich, "Bioplamsm" ở Nga Sô do Inyushin.
"Khí"
(Energy)
tức là năng
lực, năng lượng. Khí thể hiện dưới nhiều
hình thức khác nhau như: Nhiệt năng, cơ năng,
quang năng, điện năng, hóa năng, năng lực
tinh thần,...
Khí và vật có sự liên hệ
mật thiết với nhau. Khí cấu tạo ra vật, và
cùng kết hợp với vật. Vật hoạt động sinh ra
khí. Cũng như, cơ quan có sự liên hệ mật
thiết với cơ năng. Cơ năng quyết định sự
hình thành và phát triển cơ quan. Cơ quan
sinh hoạt biến thành cơ năng. Nhà khoa học
Einstein đã giải thích sự liên hệ giữa khí
và vật bằng phương trình E = mc2. Năng lượng
khí bằng khối lượng nhân với bình phương tốc
độ ánh sáng. Năng lượng khí và khối lượng
vật chỉ là một, nhưng p hai hình thức khác
nhau. Khi khối lượng vật chất bị phá hủy,
kết quả sẽ sinh ra năng lượng khí được tỏa
ra.
Về phương diện sinh lý, cơ
thể con người là một thể chất hóa hợp của
những tế bào, phân tử, nguyên tử khác nhau.
Tùy theo những yếu tố và điều kiện sống
chung quanh (như: thực phẩm, nước uống,
không khí, thời tiết, xã hội...), nguồn năng
lực (khí) trong cơ thể được gia tăng, hay bị
suy giảm. Trong đời sống hàng ngày, nguồn
năng lực
(Khí) đóng một vai trò rất quan
trọng, trong sự liên quan mật thiết giữa cơ
thể và tâm trí con người. Cũng như, hơi thở
qua việc hô hấp không khí là một yếu tố quan
trọng nhất, trong tiến trình phát sinh năng
lực (Khí)
con người. Qua tiến trình hô hấp
không khí, dưỡng khí
(oxygen) trong không
khí được gạn lọc như một nhiên liệu căn bản,
dùng đốt cháy thực phẩm, để sinh ra năng lực
(khí), thán khí
(carbon dioxide), và nước,
theo phương trình hoá học như sau:
Food + Oxygen ® Energy +
Carbon Dioxide + Water
(Đồ ăn) + (Dưỡng khí) ® (Năng
lực) + (Thán khí) + (Nước)
Năng lực
(khí) được sinh ra
từ phản ứng hóa học của dưỡng khí và đồ ăn,
được dùng bồi dưỡng, điều hòa nhiệm vụ não
bộ, và các bộ phận trong cơ thể, cũng như,
tạo nên một sức mạnh chịu đựng, dẻo dai về
thể chất lẫn tinh thần. Để có nguồn năng lực
(khí)
sung mãn, trong đời sống khỏe mạnh,
ngoài hai yếu tố cần thiết phải có như dưỡng
khí (Oxygen) (không khí trong lành), và thức
ăn tươi tốt
(đầy đủ chất dinh dưỡng), người
ta cần phải có thêm những yếu tố hỗ trợ khác,
không kém phần quan trọng như: nước uống
tinh khiết, ánh sáng mặt trời, nghỉ ngơi
tịnh dưỡng, tâm trí quân bình, và vận động
thể dục...
HÔ HẤP VÀ SỰ SỐNG
Hô hấp (hít thở) không khí
đóng một vai trò quan trọng nhất, trong sự
sống con người. Do đó, hô hấp là để sống,
sống cần phải hô hấp, vì hô hấp tạo nên hơi
thở, và nguồn sinh lực
(khí) trong con
người. Nếu hơi thở chấm dứt, tiếp theo, sự
chết đến ngay với con người.
Sau một công việc mệt nhọc,
hay một ngày lao tâm, lao lực, người ta áp
dụng một số phương pháp hô hấp
(hít thở) không khí đúng cách. Kết quả nhận thấy cơ
thể khỏe mạnh, tinh thần tươi tỉnh. Sinh lực
được phục hồi, nhờ vào sự biến năng của
dưỡng khí (oxygen), được không khí mang vào
cơ thể.
Hơi thở của một người khỏe
mạnh bình thường được gọi là hơi thở tự
nhiên, cần phải hội đủ bốn đặc tính: yên
lặng, thanh thản, nhẹ nhàng, và điều hòa.
Hơi thở của họ biểu lộ một cách dễ dàng, nhẹ
nhàng, liên tục, không cảm thấy mệt mỏi,
không bị ràng buộc bởi bất cứ điều kiện nào,
kể cả việc ý thức về hơi thở. Nói một cách
khác, hơi thở khỏe mạnh tự nhiên là hơi thở
không dài, không ngắn, êm đềm, và đều đặn.
Khi đạt được hơi thở như thế, người ta cảm
thấy nhận được sự khỏe khoắn, nhẹ nhàng
trong cơ thể, tình cảm an hòa, tinh thần
bình tĩnh, trong một linh hồn minh mẫn.
Tuy nhiên, đối với người
bệnh hoạn, sức khỏe yếu kém, hơi thở của học
thường có vẻ mệt nhọc, do sức cố gắng mà ra.
Hơi hít vào vô cùng ngắn, thở ra thường kéo
dài, đôi khi, ngược lại. Những người có hơi
thở mất bình thường như thế, thể chất và
tinh thần của họ trở nên yếu đuối, đời sống
tình cảm bất an, để đưa đến những nỗi lo âu,
buồn nản, thiếu ý chí kiên nhẫn, trong công
việc hàng ngày. Tiếp tục như thế, trong một
thời gian lâu dài. Điều kiện sức khỏe thể
chất lẫn tinh thần của họ sẽ gặp nhiều khó
khăn. Do đó, hơi thở của những người này cần
được chăm sóc cẩn thận, trong lúc tập luyện
khí công. Dần dần, với thời gian, khí công
có thể giúp họ phục hồi được hơi thở tự
nhiên, khỏe mạnh bình thường.
Nhịp độ thở trung bình của
một người khỏe mạnh bình thường là mười tám
hơi thở (ra vào)
trong một phút. Trong tiến
trình tập luyện khí công, thời gian cho mỗi
hơi thở (ra vào) càng lúc cần được kéo dài
thêm. Vì vậy, khi đến giai đoan tiến bộ, học
viên nên tập để nhịp độ thở trung bình giảm
xuống, nghĩa là giảm dần số lần của hơi thở
(ra vào) trong một phút.
Các nhà thiền sư, đạo sĩ
thường tập giữ cho nhịp độ thở
(ra vào) từ 5
xuống tới 2 hơi thở
(ra vào) trong một phút.
Với tư thế ngồi thiền tịnh tâm, họ có thể
tập kéo dài trong 30 phút. Có hai cách thông
thường để giữ cho nhịp độ thở giảm xuống
như: tạo nên hơi thở nhẹ nhàng, hay đưa hơi
thở sâu xuống bụng dưới
(đan điền).
BỘ MÁY HÔ HẤP TRONG
KHÍ CÔNG
Đối với học viên mới nhập
môn khí công, điều quan trong nhất là việc
hiểu biết về sinh lý căn bản của các bộ phận
liên quan đế tiến trình hô hấp của con người
như sau:
Nhiệm vụ của phổi
Bộ máy hô hấp của con người
gồm có hai lá phổi, và những bộ phận trung
gian, để dẫn không khí ra vào hai lá phổi
như: mũi, miệng, yết hầu, thanh quản, khí
quản và cuống phổi. Hai lá phổi được nằm ở
hai bên đường trung tuyến trong lồng ngực,
và ngăn cách bởi quả tim. Lá phổi bên phải
gồm có ba thùy. Lá phổi bên trái có hai
thùy.
Nơi tận cùng của ống khí
quản được tiếp nối với hai cuống phổi lớn,
và các động mạch, để dẫn vào bên trong hai
lá phổi trái phải. Từ đó, hai cuống phổi lớn
và các động mạch, càng vào bên trong phổi,
càng được phân chia thành nhiều chùm nhánh
nhỏ dần, để dẫn đến tận cùng những túi nhỏ
chứa không khí
(gọi là Khí bào).
Bên trong mỗi lá phổi, được
cấu tạo bởi vô số, khoảng 600 triệu túi nhỏ
chứa không khí (Khí bào), chia thành hiều
chùm khí bào, đi song song với nhiều chùm
mạch máu lớn nhỏ chằng chịt. Phổi được cấu
tạo bởi những mô mềm xốp, co dãn và có nhiều
lỗ hình thức như một tổ ong. Mỗi túi nhờ khí
bào chứa đựng một phần không khí được hít
vào. Từ đó, dưỡng khí
(oxygen) được thấm
xuyên qua thành của các phế mao quản. Sau
đó, máu hữu dụng hóa dưỡng khí
(oxygen)
và
thải trừ thán khí
(carbon dioxide)
cùng
những chất cặn bã, do máu góp nhặt được
trong hệ thống. Nếu thiếu sự hiện diện của
máu, những túi nhỏ khí bào sẽ bị thất thoát
nguồn dưỡng khí
(oxygen), và được thay vào
bằng thán khí
(carbon dioxide).
Thể tích của hai lá phổi ở
người trưởng thành, trung bình chứa từ 4 đến
6 lít không khí, hoặc tương đương với số
lượng không khí được chứa trong quả bóng rổ
(basketball). Nếu những mô tầng của hai lá
phổi được tráng mỏng ra trên mặt phẳng, diện
tích của nó có thể phủ lên một nửa sân chơi
quần vợt.
Bên ngoài mỗi lá phổi được
bao phủ bởi mặt trong của màng phổi vững
chắc. Mặt ngoài của màng phổi này được dính
vào thành trong lồng ngực. Vùng ở giữa màng
phổi là một chất nước nhờn, để cho hai lá
phổi di chuyển linh động, trong lúc hít thở
không khí.
Vai trò hoành cách
mô
Thân người được chia làm
hai phần: phần trên là lồng ngực, phần dưới
là bụng. Hai phần này được ngăn cách bởi một
"Hoành Cách Mô"
(một màng thịt gân có hình
nón chóp bầu). Sự co dãn của lồng ngực và
hoành cách mô đã đóng một vai trò chủ yếu
trong tiến trình hít thở không khí.
Lồng ngực chứa đựng hai lá
phổi và tim, được bao phủ bởi bộ xương sườn
và xương ức. Khi hít hơi vào, hai lá phổi
bắt đầu nở lớn dần dần và gây nên sự kích
thích các bắp thịt liên tiếp giữa các xương
sườn. Chính các bắp thịt này tác dụng tạo
nên sự di động của bộ xương sườn, để cho
lồng ngực được căng phồng lên. Do đó, bên
trong lồng ngực có thêm một khoảng trống đủ
sức chứa thể tích gia tăng của hai lá phổi.
Đây là loại thở bằng ngực (hay thở trung
bình), không có sự ảnh hưởng của hoành cách
mô. Phần chủ yếu là sự dãn nở lớn tối đa của
lồng ngực, để đạt được một số lượng dưỡng
khí (oxygen)
lớn nhất, trong một thể tích
không khí tối đa ở vào vùng giữa của hai lá
phổi.
Đối với loại thở sâu
(hay
thở thấp, Đan Điền), khi hít hơi vào, không
khí không bị dừng lại ở vùng giữa của hai lá
phổi như nói trên, nhưng không khí được đưa
sâu xuống phần dưới của hai lá phổi. Đồng
thời tạo nên một sức ép trên mặt chóp bầu
của hoành cách mô, khiến cho hoành cách mô
bị đẩy thấp xuống phía bụng dưới, khoảng 4
phân (centimeters). Động tác này tạo nên một
khoảng trống, giữa mặt trên hoành cách mô và
phía dưới của hai lá phổi. Do đó, không khí
gia tăng làm cho phần đáy của hai lá phổi,
dãn nở thêm xuống phía dưới. Trong khi đó,
tất cả những túi nhỏ khí bào, ở vùng dưới
hai lá phổi, phải hoạt động tích cực, để có
một sự dãn nở lớn gia tăng tối đa. Được như
thế, các túi nhỏ khí bào mới đạt được một
thể tích tồn trữ không khí tối đa. Điều này
rất quan trọng, vì cần phải có một số lượng
dưỡng khí
(oxygen) tối đa, để thay vào chỗ
của số thán khí (carbon dioxide) cần được
loại bỏ ra ngoài, cũng như cần một số dưỡng
khí (oxygen) để dùng vào việc tác dụng phản
ứng biến thể trong phổi.
Ngoài ra, sức ép của hoành
cách mô hướng xuống bụng dưới, đã khiến cho
một số máu dư đang ứ đọng trong các nội
tạng, và màng ruột được ép dồn vào bên trong
các tĩnh mạch. Cũng như, tạo nên sự kích
thích cho đôi dây thần kinh thái dương, giúp
cho tâm trí trở nên thanh tịnh.
Không khí được thổ ra là
buớc sau cùng cần thiết, trong tiến trình hô
hấp. Song song với không khí được thở ra,
hai lá phổi co thắt nhỏ lại dần dần, cùng
lúc với lồng ngực hạ thấp xuống, vì các bắp
thịt giữa bộ xương sườn giảm dần tính kích
thích, rồi trở lại bình thường. Do đó, sức
ép của hoành cách mô bị mất ảnh hưởng, rồi
hoành cách mô bật hướng lên, theo sức đàn
hồi tự nhiên. Đồng thời tạo nên một sức đẩy
hướng thượng, tác động vào phần đáy của hai
lá phổi, giúp gia tăng sức ép từ dưới đáy
phổi, tống mạnh không khí dơ bẩn, còn ứ đọng
lại từ đáy phổi ra ngoài.
(Sưu tầm từ "Khí Công Dưỡng Sinh" của Vũ Đức
Hiền Âu)