Luật hỏi ngă trong chữ Việt
Mar/04/06
|
|
chăng - chẳng |
lén - lẻn |
rảy - rưới |
|
chưa - chửa |
lỏm - lóm |
túa - tủa / toả |
|
không - hổng |
thoáng - thoảng |
há miệng - hả miệng |
|
phản - ván |
ham - hám |
nói hở - nói hớ |
|
tan - tản |
bấu - bâu |
vểnh mặt - vênh mặt |
Đổi thanh theo mô h́nh lăi - lời - lợi (nhóm huyền - ngă - nặng). Dưới đây là một số trường hợp thường gặp:
đă - đà
ngỡ - ngờ
chậm răi - chẫm răi
lời - lợi
cội - cỗi
ướt đẫm - ướt đầm
dẫu - dầu
c̣i - cỗi
đen sậm - đen sẫm
cũng - cùng
đỗ - đậu
xoă tóc - xoà tóc
(sông) Nhị - (sông) Nhĩ
thơng - tḥng
ăn ruỗng - ăn ruồng
Ngoài ra, có một số từ Hán Việt và tiếng thuần Việt dường như có liên quan, gần gũi với nhau . Những trường hợp vay mượn qua lại như thế cũng tuân theo phép hài thanh của tiếng Việt, nghĩa là cũng theo một trong hai mô h́nh tan - tán - tản và lăi - lời - lợi. Dưới đây là một vài thí dụ về sự giao tiếp ngôn ngữ như thế:
huyền - ngă - nặng
ngang - hỏi - sắc
cưỡng - gượng
thiểu - thiếu
trữ - giữ
thố - thỏ
đăi - đợi
xả - xá
Biết được tính cách của luật hài thanh th́ chúng ta có thể nêu lên thành luật gọi là "luật hỏi-ngă của các tiếng nôm" như sau:
|
Luật 1 |
khi hai tiếng có thể láy được với nhau th́ hễ một tiếng mang dấu ngang (không dấu) hoặc dấu sắc th́ tiếng kia phải mang dấu hỏi; ngược lại, hễ một tiếng mang dấu huyền hoặc dấu nặng th́ tiếng kia phải mang dấu ngă. |
|
Luật 2 |
một từ có thể chuyển thanh điệu sang ngang hoặc sắc th́ chắc chắn là mang dấu hỏi (theo mẫu tan - tán - tản); ngược lại, một tiếng có thể chuyển sang thanh huyền hoặc thanh nặng th́ chắc chắn là có dấu ngă (theo mẫu lời - lăi - lợi). |
Hai luật hỏi ngă này có thể giúp giải quyết được một số khá lớn các trường hợp mà người viết đang c̣n phân vân không biết nên bỏ dấu hỏi hay dấu ngă. Chẳng hạn, khi phải viết câu dưới đây, người nói giọng đàng trong có thể phân vân không biết bỏ dấu hỏi ngă thế nào:
3a Chị mơ gói thịt mơ ra rồi ngao ngán thơ dài.
Có thể dùng phép hài thanh (ngang hỏi sắc-huyền ngă nặng) để t́m ra được rằng: tiếng Việt có nói mở mang (làm cho rộng ra) theo luật ngang-hỏi-sắc, và có mỡ màng (có nhiều chất dầu, mỡ) theo luật huyền-ngă-nặng; lại cũng có thở than (than văn chuyện ǵ) mà không có *thỡ (viết với dấu ngă). Vậy câu 3a bỏ dấu hỏi ngă như sau:
3b Chị mở gói thịt mỡ ra rồi ngao ngán thở dài.
Một thí dụ khác là khi viết câu dưới đây:
4a Đứa bé đa ăn no rồi mà vân chưa chịu đi ngu.
Chúng ta biết là từ đă ở đây phải bỏ dấu ngă v́ cũng có thể nói đà mà câu vẫn không đổi nghĩa. Từ vẫn mang dấu ngă v́ phó từ này không có thể nhầm lẫn với từ vẩn - Có nghĩa là chất cặn bẩn, hoặc từ vẩn vơ (có nghĩa là tâm trạng không dứt khoát) theo luật ngang-hỏi-sắc. Từ ngủ ở cuối câu th́ chỉ có thể láy thành ngủ nghê theo luật ngang-hỏi-sắc, nên phải mang dấu hỏi. Vậy th́ câu 4a được viết hoàn chỉnh như sau:
4b
Đứa bé đă ăn no rồi mà vẫn chưa chịu đi ngủ.
Ngoài ra, cũng
nên biết thêm là người Việt - nhất là người miền Nam - hay nói gộp
các tiếng hai âm tiết thành một trong những trường hợp sau đây: phải
không > phỏng, bà ấy > bả, ở bên ngoài ấy > ở ngoải, hôm ấy > hổm,
năm ấy > nẳm, hồi ấy > hổi [7].
Tất cả những tiếng nói gộp trên đây đều mang dấu hỏi. Vậy th́ có
luật 3 như sau:
|
Luật 3 |
Các tiếng nói gộp âm đều mang dấu hỏi |
Trong kho từ
ngữ tiếng Việt hiện đại c̣n có một nhóm nhỏ những từ ngữ nước ngoài
nhưng đă được chuyển sang giọng đọc tiếng Việt. Các tiếng vay mượn
thường được phiên chuyển sang thanh hỏi: moả (< moi), xừ luỷ (<
lui), đi rỏn (< ronde), sở cẩm (< commissaire de police), làm cỏ vê
(< corvée). Vậy có thể nêu thành luật cho loại từ ngữ này như sau:
|
Luật 4 |
các tiếng vay mượn từ tiếng nước ngoài và đă chuyển sang giọng tiếng Việt, th́ thường viết với dấu hỏi. |
DẤU
HỎI NGĂ CỦA TỪ HÁN VIỆT
Như đă nói ở trên, nhận biết được một từ Hán Việt sẽ có lợi rất lớn là phân biệt được một phần khá lớn những từ mang dấu hỏi ngă thuộc nhóm từ Hán Việt. Giở từ điển Hán Việt, ta có thể thấy là:
(1) Những từ Hán
Việt bắt đầu bằng các phụ âm d, l, m, n. nh, ng, v thường viết dấu ngă .
Có khoảng 180 từ Hán Việt mang dấu ngă. Ví dụ:
|
Phụ âm d: dă, dĩ, dũ, dữ. |
|
Phụ âm l: lăo, lễ, lỗ, lữ |
|
Phụ âm m: măo, mănh, mẫn, mỗ |
|
Phụ âm n: năo, nễ, nỗ, nữ |
|
Phụ âm ng: ngă, ngỗ, ngũ, ngữ |
|
Phụ âm nh: nhă, nhĩ, nhũ, nhữ |
|
Phụ âm v: vẫn, vĩ, viễn, vũ |
(2) Ngoài những trường hợp kể trên, các từ Hán Việt khác bắt đầu bằng
các phụ âm khác đều viết dấu hỏi, trừ những lệ ngoại sẽ nói ở dưới. Ví
dụ về các từ Hán Việt có dấu hỏi:
|
Nguyên âm: |
ả, ảo, ẩn, yểu, uẩn, uỷ. |
|
Phụ âm |
|
|
b |
bảo, bỉ, bỉnh, bổng, bửu |
|
c/k/q |
cảo, cổ, củ, kỉ, kiểu, quả, quản, quảng, quỷ |
|
đầu ch |
chỉ, chiểu, chuẩn, chủng, chử |
|
đầu đ |
đả, đẩu, để, điểu, đổ |
|
gi |
giả, giảo, |
|
h |
hảo, hỉ, hổ, hủ |
|
đầu kh |
khả, khẩu, khổ, khởi |
|
ph |
phả, phỉ, phổ |
|
s |
sỉ, sổ, sửu |
|
t |
tả, tảo, tể, tỉ, tổ, tử |
|
th |
thải, thổ, thủ, thưởng |
|
tr |
trảo, trảm, triển, trưởng |
|
x |
xa, xả, xảo, xỉ, xử |
Nhóm thứ nh́ này có khoảng 30 trường hợp ngoại lệ, cần nhớ thuộc ḷng.
Dưới đây là bảng liệt kê các từ đó với những thí dụ về từ ghép đặt trong
ngoặc:
|
Phụ âm |
|
|
b |
băi (băi thị, băi nại), bĩ (bĩ vận), |
|
c |
cữu (linh cữu), cưỡng (cưỡng đoạt) |
|
đ |
đăng (khoáng đăng), đễ (hiếu đễ), đỗ (Đỗ thị) |
|
h |
hăm (hăm hại), hăn (hăn hữu), hoăn (hoăn binh), hĩ (một tiếng đệm), hỗ (hỗ trợ), hỗn (hỗn hợp, hỗn mang), huyễn (huyễn mộng), hữu (bằng hữu) |
|
k |
kĩ (ca kĩ, kĩ thuật, kĩ xảo) |
|
ph |
phẫn (phẫn nộ), phẫu (giải phẫu) |
|
d |
quẫn (quẫn bách), quỹ (quỹ đạo, quỹ tích, thủ quỹ) |
|
s |
sĩ (bác sĩ, viện sĩ), suyễn (suyễn tức, suyễn yết) |
|
t |
tiễn (tiễn biệt), tĩnh (tĩnh mịch), tuẫn (tuẫn tiết) |
|
th |
thuẫn (mâu thuẫn), thũng (phù thũng) |
|
tr |
trăi, trẫm, trĩ (ấu trĩ), trữ (dự trữ, lưu trữ, tích trữ) |
|
x |
xă (xă hội, xă tắc) |
Từ hai điểm trên, chúng ta có thể nêu lên hai luật hỏi ngă dành cho
tiếng Hán Việt như sau:
|
Luật 5 |
các từ Hán Việt có phụ âm đầu d, l, m, n, nh, ng, v đều có dấu ngă. |
|
Luật 6 |
các từ Hán Việt khác có thanh hỏi. Trừ khoảng 30 trường hợp ngoại lệ. |
Tóm lại, viết dấu hỏi ngă tiếng Việt cho dù phức tạp nhưng vẫn có những
lề luật từ tự thân tiếng Việt. Những mẹo luật mà Nguyễn Đ́nh và Lê Ngọc
Trụ đă phát hiện và được nhắc đến ở đây chẳng qua chỉ là những phát hiện
những quy luật ẩn dấu trong hoạt động ngôn ngữ mà thôi. Để có thể áp
dụng sáu "luật hỏi ngă" trên đây, cần đến công phu thực tập đều
đặn trong một thời gian đủ để chiêm nghiệm những quy luật được thể hiện
qua thực tiễn ra sao.
Trong t́nh h́nh dạy và học tiếng Việt tại hải ngoại hiện nay, việc phân biệt dấu hỏi và dấu ngă là một công việc khó khăn. Nhưng đây cũng lại là một việc cần thiết vô cùng, v́ đó là một trong những công việc cần thiết để nâng cao tŕnh độ hiểu biết về chuẩn mực ngôn ngữ của tiếng Việt. Có thể là chuyện viển vông khi nói đến chuẩn mực ngôn ngữ ở hải ngoại lúc này, nhưng đây lại là nhu cầu chính đáng của lớp trẻ ngày càng đ̣i hỏi phải nh́n lại cho rơ đâu là chuẩn mực ngôn ngữ. Đó cũng chính là mục đích của chính tả vậy.
Đoàn Xuân Kiên
Luân Đôn
Tài liệu:
Lê Ngọc Trụ (1959): Chánh Tả Việt Ngữ. (bản in ḱ 2). Sài G̣n: nxb. Trường Thi
Nguyễn Đ́nh (1939): Luật Ngă Hỏi, tạp chí Tao Đàn (Hà Nội), bộ mới, số 8, ngày 16.6.1939
Phan Ngọc (1982): Chữa Lỗi Chính Tả Cho Học Sinh. Hà Nội: nxb. Giáo Dục
Ghi chú:
[1]
Đoàn Xuân Kiên, "Bàn về việc đánh dấu thanh tiếng Việt", in trong tập
san Định Hướng số 17 (mùa thu 1998), tr. 109-121.
[2] Tiếng Việt hiện đại có khoảng 2000 từ mang dấu hỏi,
và khoảng trên 1000 từ mang dấu ngă.
[3] Nói về hiện tượng vay mượn th́ cần chú ư riêng đến
vốn từ ngữ mượn từ tiếng Trung Hoa do người Hán đem sang từ khi họ đô hộ
nước Việt cổ. Trong một thời gian dài cả ngh́n năm, tiếng Hán đă trở
thành một thứ ngôn ngữ chính thức trong xă hội Việt. Đến khi nước ta
giành lại nền độc lập (năm 939) th́ tiếng Hán vẫn là thứ văn tự chính
thức trong hành chính và giáo dục. V́ thế mà chúng ta gọi kho từ ngữ Hán
dùng tại nước ḿnh là tiếng Hán Việt. Chỗ đứng của tiếng Hán Việt trong
kho từ ngữ tiếng Việt hiện đại rất là đặc biệt, khác hẳn với một số nhỏ
những từ ngữ mượn từ các ngôn ngữ phương tây về sau: đă từ lâu đời rồi,
ngôn ngữ văn hoá của người Việt không thể thiếu vốn từ Hán Việt. Chỗ
đứng của tiếng Hán Việt trong tiếng Việt trong chừng mức nào đó tương tự
như tiếng Latin trong các ngôn ngữ Ấn-Âu vậy. Trước đây, nhà cầm quyền
cộng sản Việt Nam toan loại bỏ chỗ đứng của từ Hán Việt. Nay th́ họ lại
rơi vào một quá khích khác, là dùng nhiều từ Hán Việt đến mức làm cho
tiếng Việt nhiều khi tối tăm, nặng nề. (Báo Nhân Dân có thừa những dẫn
chứng cụ thể về chuyện này). Chúng ta không sùng bái nhưng cũng không
thể có thái độ ḱ thị đối với tiếng Hán Việt. Vả chăng, số vốn từ vựng
Hán Việt trong tiếng Việt hiện đại chiếm đến khoảng 60% từ ngữ, th́ thái
độ chính đáng của bất cứ ai quư trọng tiếng Việt là cần phải học hỏi và
trau giồi vốn từ Hán Việt.
Cần lưu ư là trong lối nói thông thường hiện nay có khi chúng ta nói bất kể nhưng đây là trường hợp nói sai quy tắc, v́ kể không phải là từ Hán Việt.
"Luật" này đă được một nhà giáo trẻ -tên là Nguyễn Đ́nh- t́m ra đầu tiên. Ông gửi đăng trên tạp chí Tao Đàn số 8 bộ mới (1939) một bài báo mà ông gọi là luật ngă hỏi. Về sau ông Lê Ngọc Trụ đă phát triển thêm và gọi đó là luật bổng trầm (1943). Cũng Lê Ngọc Trụ đă khai triển thêm về những lề lối chuyển thanh âm của tiếng Hán Việt, và hoàn ch́nh các mẹo luật chính tả tiếng Việt trong tập Chánh tả Việt ngữ (1952).
Các nhà Hán ngữ học (như Vương Lực) đă ḍ t́m trong một số từ ngữ Việt rất gần với giọng phát âm của người Hán, và đă đưa ra giả thuyết là tiếng Hán cổ có thể cũng vay mượn một số từ của Giao Châu trong thời ḱ người Hán sang đô hộ.
[7] Gs. Lê Ngọc Trụ cho rằng có một ngoại lệ là hỗi (dấu ngă), v́ ông cho rằng đó là nói gộp âm của "hồi năy đến giờ". Các bạn miền Nam của chúng tôi th́ lại cho rằng khi nói hổi, họ nghĩ đến "hồi đó tới giờ". Vậy th́ có một biệt lệ ở đây hay chăng?
[8] Để cho dễ nhớ, có thể học thuộc ḷng câu sau đây: "ḿnh nên nhớ là viết dấu ngă ", trong đó các âm đầu đều mang phụ âm của các từ Hán Việt có dấu ngă.
[9] Chính tả nghĩa là viết (tả) cho đúng (chính), nghĩa là viết đúng theo một mẫu mực nào đó được xă hội công nhận và quy định làm mực thước cho mọi người phải tuân theo.
Trích Viễn Xứ.com