Tiếng Việt
Chu Đậu
Ở trong nước, hiện tượng dùng chữ nghĩa kỳ cục do CS Bắc Việt du nhập vào miền
Nam, lai căng với nhiều từ ngữ mới chế rất ngô nghê và xa lạ đối với phần đông
dân chúng. Với chủ trương nôm na hóa ngôn ngữ Việt, tập đoàn CS nắm quyền đă lạm
dụng từ thuần Việt quá mức trở thành thô tục (như: "xưởng đẻ" dùng cho "nhà bảo
sanh", "nhà ỉa" dùng cho "nhà vệ sinh", hay "lính thủy đánh bộ" dùng cho "thủy
quân lục chiến" v. v... , và đặt ra nhiều từ sai hẳn với nguyên nghĩạ
Ngôn ngữ thay đổi theo thời gian, theo sinh hoạt xă hộị. Mỗi ngày, từ những đổi
mới của đời sống, từ những ảnh hưởng của văn minh ngoại quốc mà ngôn ngữ dần dần
chuyển biến. Những chữ mới được tạo ra, những chữ gắn liền với hoàn cảnh sinh
hoạt xưa cũ đă quá thời, dần dần biến mất. Cứ đọc lại những áng văn thơ cách đây
chừng năm mươi năm trở lại, ta thấy nhiều cách nói, nhiều chữ khá xa lạ, v́
không c̣n được dùng hàng ngày. Những thay đổi này thường làm cho ngôn ngữ trở
nên sinh động hơn, giàu có hơn, tuy nhiên, trong tiếng Việt khoảng mấy chục năm
gần đây đă có những thay đổi rất kém cỏi. Ban đầu những thay đổi này chi giới
hạn trong phạm vi Bắc vĩ tuyến 17, nhưng từ sau ngày Cộng Sản toàn chiếm Việt
Nam, 30 tháng 4 năm 1975, nó đă xâm nhập vào ngôn ngữ miền Nam. Rồi, đau đớn
thay, lại tiếp tục xâm nhập vào tiếng Việt của người Việt ở hải ngoại. Người ta
thuận theo các thay đổi xấu ấy một cách lặng lẽ, không suy nghĩ, rồi từ đó nó
trở thành một phần của tiếng Việt hôm nay. Nếu những thay đổi ấy hay và tốt th́
là điều đáng mừng. Nhưng than ôi, hầu hết những thay đổi ấy là những thay đổi
xấu, đă không làm giầu cho ngôn ngữ dân tộc mà c̣n làm tiếng nước ta trở nên tối
tăm.
Thế nhưng, dựa vào đâu mà nói đó là những thay đổi xấu? Nếu sự thay đổi đưa lại
một chữ Hán Việt để thay thế một chữ Hán Việt đă quen dùng, th́ đây là một thay
đổi xấu, nếu dùng một chữ Hán Việt để thay một chữ Việt th́ lại càng xấu hơn.
Bởi v́ nó sẽ làm cho câu nói tối đi. Người Việt vẫn dễ nhận hiểu tiếng Việt hơn
là tiếng Hán Việt. Nhất là những tiếng Hán Việt này được mang vào tiếng Việt chỉ
v́ người Tầu ở Trung Hoa bây giờ đang dùng chữ ấy. Nếu sự thay đổi để đưa vào
tiếng Việt một chữ dùng sai nghĩa, th́ đây là một sự thay đổi xấu vô cùng.
Từ ngữ sai với nguyên
nghĩa, nghe thô tục, kỳ lạ
Sau đây, chúng tôi xin ghi lại một số từ ngữ (được tạm xếp theo vần abc) mà chế
độ CSVN ép dân chúng dùng, đọc lên, nói lên sai với nguyên nghĩa, nghe thô tục,
kỳ lạ và ảnh hưởng Tây phương rất nặng, khó có thể chấp nhận:
1. "Buổi đêm". ‘Buổi đêm tôi có gặp đồng chí
ấy’.
Từ xưa đến nay người Việt không bao giờ nói "buổi đêm" cả, chỉ nói
"ban đêm", "ban ngày". "Ban" được hiểu như là một
thời gian khoảng 12 giờ, ban đêm 12 giờ cộng với ban ngày 12 giờ là 24 giờ. C̣n
"buổi" th́ chúng ta có "buổi sáng", "buổi trưa", "buổi
chiều", "buổi tối". Ban ngày có 12 giờ và tạm coi như có 4 buổi, như vậy
mỗi buổi có 3 giờ đồng hồ. Night time, day time khác với morning; noon;
afternoon; evening. Chúng ta thường nói: ‘Chờ ông ấy mất cả buổi’. Buổi ở đây là
khoảng ba giờ. Câu nói khác: ‘Thế là mất một buổi cày’.
Buổi ở đây lại có nghĩa mất cả một ngày công. Chế ra từ buổi đêm là làm hỏng
tiếng Việt.
2. "Cải tạo" = transform, improve;
re-education. Họ không phân biệt "cải tạo vật chất" với "cải tạo tư tưởng", quan
niệm chính trị. Nói : ‘Phải dùng cát để cải tạo đất’, khác với ‘Trung úy miền
Nam bị đi tù cải tạo’. Nếu muốn chữa cho đất có màu mỡ hơn nên dùng "cải
tiến", "cải thiện"... Khoảng 50 năm nay từ "cải tạo" cả nước đă hiểu là ở
tù rồi!
3. "Cảm giác". ‘Xin anh cho biết cảm giác ra
sao về hiện tượng đó’ những ǵ cảm thấy được được bằng giác quan. Có ngũ giác:
xúc giác: sờ chạm, thị giác: mắt thấy, thính giác: tai nghe; vị giác: lưỡi nếm,
khứu giác: mũi ngửị Đó là các sense organs, c̣n cảm giác và cảm tưởng; cảm tính
(feeling, khác với lư tính) dễ lầm lẫn v́ đó là sensation, impression. Dùng đúng
chữ phải là: ‘Xin anh cho biết cảm nghĩ, cảm tưởng, về
hiện tượng đó’ chính xác hơn là "cảm giác". (Ngoài ra impression c̣n có
nghĩa là ấn tượng, dấu ấn). Chúng ta có thể nói : có cảm
giác ghê sợ, nhờm tởm, lạt lẽo, ấm cúng.. một giác xuất phát từ năo bộ,
tuy cũng do từ năm giác quan vừa kể gửi tín hiệu lên óc.
4. "Cầu lông" = Badmington = Một môn thể thao nhẹ nhàng gần giống
quần vợt, có giăng lưới cao, dùng vợt nhẹ và quả cầu có gắn lông vũ, đánh qua
lại trên lướị Trên thực tế quả cầu badmington làm giả bằng nhựa không chế bằng
lông gà lông vịt nữa. Cách gọi này thô tục quá! Tại sao không gọi là
cầu lông vũ hoặc
bát-minh-tơn? Người viết c̣n nhớ có lần đă bị bà vợ một đại tá sửa lưng,
khi lở miệng nói: lông quả đào. Bà kể lại, tôi bị bà Trg. Tg. Khg. một người
miền Bắc chữa khéo: ‘Chị nên gọi là tuyết của quả đào th́
lịch sự, thanh tao hơn’. Sau đây là cách dùng sai lạc, nhằm chủ đích
tuyên truyền hoặc làm giảm đi hoặc tăng mức quan trọng của sự việc.
5. "Chất lượng": Đây là chữ đang được dùng
để chỉ tính chất của một sản phẩm, một dịch vụ. Người ta dùng chữ này để dịch
chữ quality của tiếng Anh. Nhưng than ôi! Lượng không phải là phẩm tính, không
phải là quality. Lượng là số nhiều ít, là quantitỵ Theo Hán Việt Tự Điển của
Thiều Chửu, th́ lượng là: đồ đong, các cái như cái đấu, cái hộc dùng để đong đều
gọi là lượng cả. Vậy tại sao người ta lại cứ nhắm mắt nhắm mũi dùng một chữ sai
và dở như thế. Không có ǵ bực ḿnh hơn khi mở một tờ báo Việt ngữ ở hải ngoại
rồi phải đọc thấy chữ dùng sai này trong các bài viết, trong các quảng cáo
thương măi. Muốn nói về tính tốt xấu của món đồ, phải dùng chữ
phẩm. Bởi v́ phẩm tính mới là quality. Ḿnh
đă có sẵn chữ "phẩm chất" rồi tại sao lại bỏ
quên mà dùng chữ "chất lượng". Tại sao lại phải bắt chước mấy anh cán ngố, cho
thêm buồn tiếng nước ta.
6. "Cuộc gặp" = meet, run into = hội kiến,
gặp mặt, gặp gỡ, buổi họp. Nghe "Cuộc gặp" thấy cụt ngủn, chưa trọn nghĩa. Ư họ
muốn tả một cuộc hội kiến tay đôi, một lần gặp gỡ, chưa hẳn là một hội nghị
(conference). Nên dùng như thí dụ này: "Bộ trưởng Thái đă
hội kiến gặp bộ trưởng Lào"...
7. "Cưới". Nhà văn Lê Minh Hà đi từ miền
bắc, công tác ở Đông Đức, rồi xin tỵ nạn ở Đức, viết trong tập truyện ngắn
"Trăng Góa": ‘Bọn này chưa cướị’,
‘chúng tôi cưới’ Đó là thói quen từ vùng cộng sản. Đây không phải là lối hành
văn mới lạ, kiểu cách chỉ là thói quen dùng sai từ. To marry, get married, nhưng
người Việt phải nói là: ‘Chúng tôi chưa làm đám cưới; bọn
này cưới nhau’. Câu này lại do một vai nữ tự thuật, lại càng sai nặng
nữa. Chúng ta chỉ nói "cưới vợ", không bao giờ nói
"cưới chồng" cả. Chỉ có hai trường hợp dùng được hai chữ "cưới chồng". Một là cô
gái có lỗi lầm nào đó, nhà gái phải bỏ tiền, chịu mọi chi phí đám cưới để lấy
cho được một tấm chồng. Hai là những đồng bào thiểu số, sắc dân nào c̣n theo chế
độ mẫu hệ, cô gái cưới chồng, v́ chàng rể sẽ thuộc về nhà gái. Nhà gái phải trả
cho nhà trai trâu, lợn, gà, chiêng đồng, v.v. để mua rể.
8. "Đại trà" = on a large scale = cỡ lớn,
quy mô lớn. Thí dụ: "đồng bào trồng cây cà phê đại trà". Tại sao không dùng như
trước là "quy mô lớn"? Ngoài ra dùng "đại
trà" là bắt chước Trung Quốc. Có thể gây hiểu lầm là "cây trà lớn"!!
9. "Đăng kư" = register = ghi tên, ghi danh.
Nghĩa rất đơn giản, nhưng bắt chước Trung Quốc, cố dùng Hán-Việt. Câu nói sau
đây nghe kỳ lạ: ‘Tôi đă đăng kư mua khoai ḿ ở Phường...’. Tại sao không dùng
"ghi danh", "ghi
tên"? "Đăng kư" là một chữ mà người Cộng Sản miền Bắc dùng v́ tinh
thần nô lệ người Tầu của họ. Đến khi toàn chiếm lănh thổ, họ đă làm cho chữ này
trở nên phổ thông ở khắp nước. Trước đây, ta đă có chữ
"ghi tên" (và "ghi danh") để chỉ cùng một nghĩa. Người Tầu dùng chữ "đăng
kư" để dịch chữ ‘register’ từ tiếng Anh. Ta hăy dùng chữ "ghi tên" hay "ghi
danh" cho câu nói trở nên sáng sủa, rơ nghĩa. Dùng làm chi cái chữ Hán Việt kia
để cho có ư nô lệ người Tầu? !
10. "Đầu ra, đầu vào" = output, input = cái
đưa ra, cái đưa vào, ḍng điện cho vào máy; dữ kiện đưa vào máy vi tính. Họ c̣n
dùng có nghĩa là vốn, hoặc th́ giờ, công sức bỏ vào và kết quả của cuộc đầu tư
đó. Nhưng dùng "đầu ra, đầu vào" nghe thô tục (giống như từ bộ phận = một phần
việc, một nhóm, tổ, đă bị nhà văn nữ Kathy Trần đốp chát, hỏi: "Bộ phận ǵ?" bộ
phận của đàn ông, đàn bà ả). Có thể dùng "vốn đầu tư"
và "kết quả sản lượng".
11. "Giải phóng" = liberate, emancipate/
free, relieve, release = giải tỏa, xả ,thả, trả tự do.
Từ giải phóng chỉ nên dùng cho con người, không dùng cho loài vật, đất, vườn...
Họ lạm dụng từ giải phóng, nghe không thuận tai và sai nghĩạ Thí dụ: ‘Đă giải
phóng (giải tỏa) xong mặt bằng để xây dựng nhà máy/ Anh công an lưu thông tích
cực công tác để giải phóng (giải tỏa) xe cộ ../ Em X giải phóng (thả) con chó !!
Những câu sau đây mới là dùng đúng cách: ‘phong trào
giải phóng phụ nữ ../ Công cuộc giải phóng nô lệ ..’
12. "Hiển thị" ‘Chỉ cần ấn nút th́ mọi nhu
cầu sẽ được hiển thị trên máy tính...’ (appear on screen) Tại sao không nói "sẽ
thấy hiện rơ trên máy".
13. "Hùng hiểm" ‘Địa thế nổi đó rất hùng
hiểm...’ hùng vĩ = hiểm trở (majestic
greatness + dangerous).
14. "Khả năng": Chữ này tương đương với chữ
ability trong tiếng Anh, và chỉ được dùng cho người, tức là với chủ từ có thể tự
gây ra hành động động theo chủ ư. Tuy nhiên hiện nay ở Việt nam người ta dùng
chữ "khả năng" trong bất kỳ trường hợp nào, tạo nên những câu nói rất kỳ cục.
- Ví dụ thay v́ nói là ‘trời hôm nay có thể mưa’, th́ người ta lại nói: ‘trời hôm nay có khả năng mưa’, nghe vùa nạng nề , vừa saị "Có khả năng". Đây là cách sử dụng rất Tây, thí dụ: ‘Hôm nay thời tiết có khả năng mưa’ chúng ta tạm chấp nhận (sao không nói giản dị là: "Hôm nay trời có thể mưa" ?).
-Thí
dụ này khó chấp nhận: ‘Học sinh X có khả năng không đạt điểm tốt nghiệp’. Có khả
năng là ability; aptitude; capacity và luôn luôn dùng ở trạng thái tích cực
(positive), không bao giờ dùng với trạng thái tiêu cực (negative). Những câu sau
đây nghe rất chướng: ‘Bệnh nhân có khả năng bị hôn mê’. ‘Địch có khả năng bị
tiêu diệt..’ v.v...
15. "Khả thi" = applicable; ability to carry
out = có thể thực hiện được, có thể thi hành được. "Khả thi" và "bất khả thi"
cũng chịu ảnh hưởng nặng của Trung Quốc. Sao không dùng: "không
thực hiện được"/ "không thực hiện nổi". Ngoài ra "khả thi" sẽ đưa đến
sự hiểu lầm là "có thể dự thi được".
16. "Khẩn trương": Trước năm 1975 chúng ta
đă cười những người lính cộng sản, khi họ dùng chữ này thay thế chữ ‘nhanh
chóng’. Nhưng than ôi, ngày nay vẫn c̣n những người ở Việt Nam (và cả một số
người sang Mỹ sau này) vẫn vô t́nh làm thoái hóa tiếng Việt bằng cách bỏ chữ
‘nhanh chóng’ để dùng chữ ‘khẩn trương’.
Đáng lẽ phải nói là: ‘Làm nhanh lên’ th́ người ta
nói là: ‘làm khẩn trương lên’.
17. "Khẳng định". Thói quen dùng động từ này
bị lạm dụng: ‘Diễn viên X đă khẳng định được tài năng. Đồng chí A khẳng định ở
vị trí giám đốc’ Khẳng định; xác định, xác nhận = affirm và confirm có nghĩa gần
giống nhau, ngoài nghĩa theo luật pháp có nghĩa là phê chuẩn, chuẩn y. Tuy nhiên
âm thanh của khẳng định nghe nặng nề.
18. "Kích cầu" = to level the bridge/
needing to sitimulate = nhu cầu để kích thích / nâng cao cái cầu lên. Cả hai
nghĩa đều hàm ư là chất xúc tác, kích thích tố khiến sự việc tiến nhanh hơn.
Cách dùng hơi lạ. Bên công chánh có lối dùng những con đội để nâng cao cái cầu
giao thông lên. Tại sao không dùng "kích thích tố",
"chất xúc tác" như trước?
19. "Làm rơ" ‘Công an Phường 16 đang làm rơ
vụ việc nàỵ’ Làm rơ=clarify, cần làm rơ v́ có sự mù mờ, chưa minh bạch, ngoài
c̣n có nghĩa gần như nói lại cho rơ, đính chính. Đúng nghĩa phải là
điều tra = investigate. Cách sử dụng từ làm
rơ cũng giống như làm việc (với công an, chỉ nhằm xóa bớt sự ghê sợ, hăi hùng
của người dân khi phải tiếp xúc với công an cộng sản. Họ cố tránh những động từ
như "điều tra", "khai báo", "tŕnh diện" v.v...
20. "Liên hệ": Cũng từ miền Bắc, chữ này lan
khắp nước và nay cũng tràn ra hải ngoại Liên hệ là có chung với nhau một nguồn
gốc, một đặc tính. Người Cộng Sản Việt Nam dùng chữ liên hệ để tỏ ư nói chuyện,
đàm thoại. Tại sao không dùng chữ Việt là ‘nói chuyện’
cho đúng và giản dị. Chữ liên "hệ dịch" sang tiếng Anh là ‘to relate to…’, chứ
không phải là ‘to communicate to…’.
21. "Ngài": ‘Bộ trưởng ngoại giao ta đă gặp
Ngài Brown thị trưởng thành phố San Francisco". Ngài là Sir, một tước vị của
Hoàng gia nước Anh ban cho một nhân vật nào đó. Sir có thể dịch ra là Hiệp sĩ,
cũng có thể là Knight = Hầu tước xuống đến ṭng Nam tước = Baronet. Theo nghĩa
thứ nh́ "ngài" là một từ dùng để xưng hô và là một từ tôn xưng như cụ, ông bà,
bác, chú. Trong cả hai trường hợp câu trên đều sai. Ông W. Brown chưa bao giờ
được Nữ hoàng Anh trao tặng tước hiệu Sir. Theo lối xưng hô chính thức ngoại
giao của Mỹ và theo lối Việt Nam, không nên gọi ông W. Brown là Ngài viết hoa.
Theo lối xưng hô chính thức của Mỹ, trên văn thư phải là: The Honorable ...W.
Brown Mayor of San Francisco H́nh thức chào hỏi: Sir! Dear Mayor Brown.
Như thế gọi một ông thị trưởng Mỹ là Ngài đă hoàn toàn sai. Qua sách báo từ sau
1954, miền Bắc dùng sai và lạm dụng từ Ngài. Cách dùng thứ nhất để tôn xưng quá
đáng giới chức ngoại quốc, thứ nh́ là để chế diễu, khôi hài các nhân vật trong
khối tự do dân chủ, và ở miền nam. Thí dụ: Ngài đại úy, ngài thiếu tá, ngay cả
có dạo họ đă gọi Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ là Nguyên soái! Từ sau 1954, trong
miền nam gần như không bao giờ chúng ta thấy xuất hiện từ Ngài. Chế độ Cộng Sản
tự nhận là vô sản, đánh phong kiến, diệt quan lại, nhưng nay họ lại quan lại,
phong kiến hơn ai hết. Chứng cớ qua từ tôn xưng Ngài và họ c̣n tự nhận và gọi
các cán bộ và nhân vật quan trọng ngoại quốc là Quan chức. Quan chức =
officials, có thể dịch là "viên chức", hay
"giới chức ngoại giao", "nhân viên chính phủ", "phái đoàn
ngoại giao", v.v...
22. "Nghệ nhân": Ta vốn gọi những người này
là ‘nghệ sĩ’. Mặc dù đây cũng là tiếng Hán
Việt, nhưng người Tầu không có chữ "nghệ sĩ", họ dùng chữ "nghệ nhân". Có những
người tưởng rằng chữ ‘nghệ nhân’ cao hơn chữ ‘nghệ sĩ’, họ đâu biết rằng nghĩa
cũng như vậy, mà sở dĩ người cộng sản Việt Nam dùng chữ ‘nghệ nhân’ là v́ tinh
thần nô lệ Trung Hoạ
23. "Quản lư" = management =
quản trị, chịu trách nhiệm.
Bắt chước từ Trung Quốc và bị lạm dụng. Nói: ‘Anh X quản lư một xí nghiệp’ th́ được, nhưng câu sau ‘nhái lại’ khôi hài ‘Anh sẽ xây dựng với đồng chí gái, và đồng chí gái sẽ quản lư đời anh...’. "Quản lư" chỉ dùng để trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại, hành chánh. "Quản lư" không dùng cho lĩnh vực t́nh cảm được, t́nh cảm không phải là một lô hàng, không phải là một xí nghiệp.
24. "Sơ hữu". ‘Mối quan hệ Việt-Mỹ chỉ là sơ
hữụ’ Sơ hữu + bạn mới quen, mới làm bạn (new friendship).
Tại sao không nói: ‘Mối quan hệ Việt-Mỹ chỉ là bạn mới
quen’...?
25. "Sự cố": "Sự cố kỹ thuật": tại sao không
dùng chữ vừa giản dị vừa phổ thông trước đây như ‘trở
ngại’ hay ‘trở ngại kỹ thuật’ hay giản
dị hơn là chữ
‘hỏng’? (Nói ‘xe tôi bị hỏng’
rơ ràng mà giản dị hơn là nói ‘xe tôi có sự cố’).
26. "Tai tệ nạn". ‘Tai tệ nạn xảy ra khá
nhiều trên đoạn đường này’ tai nạn + tệ nạn xă hội (accident + social
crime/evil). Cách ghép nối kỳ lạ.
27. "Thành viên" = member = theo cách nói và
viết thông thường là một người trong một tổ chức , hội đoàn, nhóm nào đó. Không
thể dùng "thành viên" cho một cá nhân trong gia đ́nh được. Thí dụ sau đây nghe
rất Tây: ‘Các thành viên trong hộ đó có cha, mẹ và hai con / Bé Năm là một thành
viên trong gia đ́nh....’ Tại sao không nói: ‘Trong hộ đó
có cha, mẹ và hai con/ Bé Năm là một đứa con trong gia đ́nh...’. Thí dụ
sau đây mới là dùng đúng: ‘Mỹ là thành viên trong Hội đồng
Bảo An Liên Hiệp Quốc có quyền phủ quyết ...’
28. "Tham quan": đi thăm, đi xem th́ nói là
đi thăm, đi xem cho rồi tại sao lại phải dùng cái chữ này của người Tầu! Sao
không nói là ‘Tôi đi Nha Trang chơi’, ‘tôi đi thăm lăng
Minh Mạng’, mà lại phải nói là ‘tôi đi tham quan Nha Trang’, ‘tôi đi tham
quan lăng Minh Mạng’.
29. "Tháng một; tháng mười hai". Hiện nay ở Việt Nam trong trường học
họ không dạy học sinh "tháng giêng" và "tháng chạp" nữa. Tháng giêng và tháng
chạp là cách gọi rất Việt Nam. Lịch in ở Việt Nam ghi tháng một là tháng giêng
cũ. Từ xưa đến nay chúng ta vẫn gọi tháng đầu năm âm lịch là "tháng giêng",
tháng thứ 11 là "tháng (mười) một" và tháng cuối năm là "tháng chạp". Gọi là
tháng chạp là do tháng cuối năm âm lịch có nhiều lễ, trong đó có lễ chạp. Ca dao
đă có câu:
"Tháng chạp là tiết
trồng khoai
Tháng giêng trồng đậu tháng hai trồng cà"
Tháng thứ 11 âm lịch gọi là "tháng một" dễ lầm lẫn với tháng giêng, nên đă tạm
bỏ. Nhưng gọi tháng January dương lịch là "tháng một" nghe không ổn, phải gọi là
tháng giêng. C̣n tháng December gọi là tháng mười hai, không có vấn đề. Nhưng họ
có dạy cho học sinh tiểu học hiểu rằng muốn chỉ tháng thứ 12 trong năm âm lịch
bắt buộc phải gọi là tháng chạp không?
30. "Thống nhất". ‘Tôi đă xuống huyện thống
nhất đồng chí X ..’ Câu này mắc hai lỗị Thứ nhất thiếu từ liên tự với, thứ nh́
là thống nhất điều ǵ, chuyện
ǵ. Thống nhất (unify; unified). Trường hợp này phải nói là "đồng
ư" với; "nhất trí" vớị
31. "Thứ nhất, thứ nh́". Từ xưa theo cách
đếm số, chúng ta có con số thường (cardinal number) như 1.2.3.4 và số thứ tự
(ordinal number) thứ nhất, thứ nh́. Hiện nay họ dường như không ưa dùng số thứ
tự và gọi thứ nh́ là thứ hai. Chỉ second; deuxième là "thứ hai" dễ lầm lẫn với
"thứ hai" = Mondaỵ Trên sách báo chỉ thấy viết: một là; hai là. Như thế chỉ
riêng nước Việt Nam không cần đến số thứ tự (ordinal number) nữa sao?
32. "Tương thích". Giá cả đó tương thích với
chất lượng mặt hàng...’ tương đương = thích hợp
(equal = appropriated). Cách ghép nối gượng gaọ
33. "Tranh thủ": Thay v́ dùng một chữ vừa rơ
ràng vừa giản dị là chữ ‘cố gắng’, từ cái tệ
sính dúng chữ Hán Việt của người cộng sản, người ta lại dùng một chữ vừa nặng nề
vừa tối nghĩa là chữ ‘tranh thủ’. Thay v́ nói: ‘anh hăy cố
làm cho xong việc này trước khi về’, th́ người ta lại nói: ‘anh hăy tranh
thủ làm cho xong việc này trước khi về’.
34. "Trao đổi" = exchange = theo nghĩa của
họ là nói chuyện, đối thoại, hội thoạị Cách
dùng chịu ảnh hưởng nặng Tây phương. Trao đổi theo đúng nghĩa là đổi chác ‘ông
đưa cái gị, bà tḥ chai rượu’. Họ chịu ảnh hưởng Tây phương quá nặng, v́ trao
đổi chỉ áp dụng cho hàng hóa (giao thương) hay con ngườị Thí dụ: ‘Hai
nước trao đổi lănh sự, trao buôn bán, mậu dịch’. Kiều và Kim Trọng đă
trao đổi quà tặng t́nh yêu cho nhaụ Không bao giờ trao đổi lại có nghĩa là nói
chuyện, đối thoại. Thí dụ sau đây cho thấy cách dùng sai lạc: ‘Anh Phillippe
Jamet đang trao đổi với một bé gái Việt Nam...’ Trao đổi ǵ? Quà tặng ǵ? Trao
đổi không bao giờ có nghĩa là converse, talk to..., chỉ là exchange thôị
35. "Trọng thị":
Coi trọng (show consideration for/ attach important to) trong từ điển
ghi là một từ cũ, không hiểu sao lại được dùng trở lạị Thí dụ: "Chúng ta phải
trọng thị yếu tố đó". Cứ nôm na nói: ‘Chúng ta phải coi
trọng yếu tố đó’ là đủ và giản dị rồị
36. "Trúng thưởng" = reward, award. Thế nào
gọi là thưởng? Thưởng là thưởng cho những cá nhân hay tập thể có công, tài giỏi,
đạt thành tích cao ... Thưởng đi đôi với phạt. Vậy không thể nói : ‘Mua hàng sẽ
được trúng thưởng.../ Anh X trúng thưởng xổ số thành phố X. được 50 triệụ ‘Đó
chỉ là quà tặng, biếu không, không phải là thưởng,
và chỉ là trúng xổ số chứ không lĩnh thưởng. Xổ số là h́nh thức đánh bạc, nên
gọi tránh đi là trúng thưởng (Thật là mâu thuẫn, trong khi đó họ bỏ tiền ra mua
máy đánh bạc đặt trong các khách sạn lớn!!)
37. "Trúng tuyển" ( nghĩa vụ quân sự) =
select, choose/ recruit. Chúng ta vẫn nói và viết "tuyển
sinh", "tuyển quân", "tuyển mộ", "tuyển dụng"... Nhưng nói : "trúng tuyển
nghĩa vụ" thật là khôi hàị Nghĩa vụ quân sự là thi hành
quân dịch, đến tuổi phải đi, bắt buộc phải đi, không có chuyện trúng
tuyển hay không được tuyển (nên dùng theo nghĩa xấu chỉ có dân nghèo, không có
tiền đút lót và không phải là con cán bộ cao cấp, mới bị trúng tuyển).
38. "Tư liệu": Trước đây ta vốn dùng chữ "tài
liệu", rồi để làm cho khác miền nam, người miền bắc dùng chữ ‘tư
liệu’ trong ư: ‘tài liệu riêng của người
viết’. Bây giờ những người viết ở hải ngoại cũng ưa dùng chữ này mà bỏ chữ ‘tài
liệu’ mặc dù nhiều khi tài liệu sử dụng lại là tài liệu đọc trong thư viện chứ
chẳng phải là tài liệu riêng của ông ta.
39. "Vị trí"
= place/ position/ job, task =
chỗ đứng, vị thế / nơi chốn/ việc làm, trách vụ. Nhưng họ dùng "vị
trí" cho luôn cả nghĩa là "trách vụ", "việc làm". Câu nói sau đây là sai: ‘Anh A
đă thay anh B công tác ở vị trí kế toán trưởng’. Nên nói: ‘Anh
A đă thay anh B công tác ở trách vụ kế toán trưởng’ mới đúng. Thường
thường chúng ta hay dùng: ‘Tiểu đội A đă chiếm được một vị trí trên cao, từ đó
có thể ngăn chặn được trung đội địch tiến lên đồi’.
40. "Vùng sâu xa":
Vùng rừng núi, đầm lầy (highland = swamp area). Đây là cách sử dụng chữ
trốn tránh thực tệ.
Vùng ở trong sâu hiểu là vùng hẻo lánh, śnh lầy và vùng xa tức là vùng trên
cao, ở xa. Đây là cách dùng mị dân, cũng như để dễ bề đẩy giáo viên, kỹ sư, bác
sĩ không phe đảng, không là con cháu cán bộ đến phục vụ nơi khỉ ho c̣ gáy. Ngoài
ra ‘sâu xa’ c̣n gây hiểu lầm với ‘ḷng cảm ơn, biết ơn sâu xa’đă quen dùng trước
đâỵ
41. "Xuất khẩu",
"Cửa khẩu": Người Tầu dùng chữ khẩu, người Việt dùng chữ cảng. Cho
nên ta nói "xuất cảng", "nhập cảng", chứ
không phải như cộng sản nhắm mắt theo Tầu gọi là "xuất khẩu", "nhập khẩu". Bởi
v́ ta vẫn thường nói phi trường Tân Sơn Nhất, phi cảng Tân Sơn Nhất, hải cảng
Hải Pḥng, giang cảng Saigon, thương cảng Saigon. Chứ không ai nói phi khẩu Tân
Sơn Nhất, hải khẩu Hải Pḥng, thương khẩu Saigon trong tiếng Việt. Khi viết tin
liên quan đến Việt Nam, ta đọc bản tin của họ để lấy dữ kiện, rồi khi viết lại
bản tin đăng báo hay đọc trên đài phát thanh tại sao không chuyển chữ (xấu) của
họ sang chữ (tốt) của ḿnh, mà lại cứ copy y boong?
42. C̣n hai từ nữa bị người dân miền bắc lạm dụng v́ lây cách dùng của cán bộ là
"bản thân" và "chủ yếu":
"Bản thân" = self, oneself, và "chủ yếu" = main, principal. Qua những câu chuyện
thường ngày, chúng ta nghe họ dùng hai từ này bừa băi , sai lệch: ‘Thức ăn chủ
yếu của đồng bào vùng này là ngô và khoai; Chúng tôi lấy gạo làm chủ yếu để qui
thành giá trị trao đổị’ Và: ‘Bản thân tôi cũng không tránh khỏi dao động. Bản
thân sự kiện đó c̣n nhiều tồn tại’. Người ta đă bỏ quên từ "tự"
và "chính" được dùng từ xưa đến nay, thí dụ:
Thức ăn chính của đồng bàọ Chính tôi cũng không tránh khỏi
dao động; Tự thân sự kiện đó.
Hiện nay đang có phong trào ghép chữ bừa băi giữa hai từ Hán-Việt + Hán- Việt
hoặc Hán-Việt + Nôm.
Thí dụ: "động thái", "thể trạng", "siêu sao", "siêu trường".
Động thái là hành động + thái độ (action + attitude);
thể trạng là t́nh trạng thân thể (physical form sitituation);
siêu sao
= super-star; siêu trường = super-long. Nghe lạ tai.
Đă đành là ngôn ngữ chẳng qua chỉ là những ước hiệu con người sử dụng để hiểu
nhau, thông cảm nhau. Tuy nhiên những ước hiệu đó không được khó hiểu, bí hiểm,
khó nghe, chói tai, kỳ lạ.
Những danh từ kỹ thuật mới:
Thời đại của điện tử, của computer tạo ra nhiều danh từ kỹ thuật mới, hay mang ư
nghĩa mớị Những danh từ này theo sự phổ biến rộng răi của kỹ thuật đă trở nên
thông dụng trong ngôn ngữ hàng ngày. Hầu hết những chữ này có gốc từ tiếng Anh,
bởi v́ Hoa Kỳ là nước đi trước các nước khác về kỹ thuật. Các ngôn ngữ có những
chữ cùng gốc (tiếng Đức, tiếng Pháp…) th́ việc chuyển dịch trở nên tự nhiên và
rơ ràng, những ngôn ngữ không cùng gốc, th́ người ta địa phương hóa những chữ ấy
mà dùng. Riêng Việt Nam th́ làm chuyện kỳ cục là dịch những chữ ấy ra tiếng Việt
(hay mượn những chữ dịch của người Tầu), tạo nên một mớ chữ ngây ngô, người Việt
đọc cũng không thể hiểu nghĩa những chứ ấy là ǵ, mà nếu học cho hiểu nghĩa th́
khi gặp những chữ ấy trong tiếng Anh th́ vẫn không hiểu. Ta hăy nhớ rằng, ngay
cả những người Mỹ không chuyên môn về điện toán, họ cũng không hiểu đích xác
nghĩa của những danh từ này, nhưng họ vẫn cứ chỉ biết là chữ ấy dùng để chỉ các
vật, các kỹ thuật ấy, và họ dùng một cách tự nhiên thôi. Vậy tại sao ta không
Việt hóa các chữ ấy mà phải mất công dịch ra cho kỳ cục, cho tối nghĩa. Ông cha
ta đă từng Việt hóa biết bao nhiêu chữ tương tự, khi tiếp xúc với kỹ thuật
phương tây cơ mà.
Ví dụ như ta Việt hóa:
chữ ‘ pomp ’
thành ‘bơm’ (bơm xe, bơm nước),
chữ ‘ soup ’ thành ‘xúp’, chữ ‘ phare ’
thành ‘đèn pha’,
chữ ‘ cyclo ’ thành ‘xe xích lô’,
chữ ‘ manggis ’ (tiếng Mă Lai) thành ‘quả
măng cụt’,
chữ ‘ durian ’ thành ‘quả sầu riêng’,
chữ ‘ bougie ’ thành ‘bu-gi,
chữ ‘ manchon ’ thành ‘đèn măng xông’,
chữ ‘ boulon ’ thành ‘bù-long’,
chữ ‘ gare ’ thành ‘nhà ga’,
chữ ‘ savon ’ thành ‘xà-bông’…
Bây giờ đọc báo, thấy những chữ dịch mới, th́ dù đó là tiếng Việt, người đọc cũng vẫn không hiểu như thường. Hăy duyệt qua một vài danh từ kỹ thuật bị ép dịch qua tiếng Việt Nam, như:
Scanner dịch thành ‘máy quét’. Trời ơi! ’máy
quét’ đây, thế c̣n máy lau, máy rửa đâủ! Mới nghe cứ tưởng là máy quét nhà!
Data Communication dịch là ‘truyền dữ liệu’.
Digital camera dịch là ‘máy ảnh kỹ thuật số’.
Database dịch là ‘cơ sở dữ liệu’. Những
người Việt đă không biết database là ǵ th́ càng không biết ‘cơ sơ dữ liệu’ là
ǵ luôn.
Sofware dịch là ‘phần mềm’,
Hardware dịch là ‘phần cứng’ mới nghe cứ tưởng nói về đàn ông, đàn bà.
Chữ ‘hard’ trong tiếng Mỹ không luôn luôn có nghĩa là ‘khó’, hay ‘cứng’, mà c̣n là ‘vững chắc’ ví dụ như trong chữ ‘hard evident’ (bằng chứng xác đáng)…Chữ soft trong chữ ‘soft benefit’ (quyền lợi phụ thuộc) chẳng lẽ họ lại dịch là ‘quyền lợi mềm’ sao?
Network
dịch là ‘mạng mạch’.
Cache memory dịch là ‘truy cập nhanh’.
Computer monitor
dịch là ‘màn h́nh’ hay ‘điều phối’.
VCR dịch là ‘đầu máy’ (Như
vậy th́ đuôi máy đâu? Như vậy những thứ máy khác không có đầu à?).
Sao không gọi là VCR như ḿnh thường gọi TV (hay Ti-Vi). Nếu thế th́ DVD, DVR th́ họ dịch là cái ǵ?
Radio dịch là ‘cái đài’. Trước đây ḿnh đă Việt hóa chữ này thành ra-đi-ô hay rađô, hoặc dịch là ‘máy thu thanh’.
Nay gọi là ‘cái đài’ vừa sai, vừa kỳ cục. Đài phải là một cái tháp cao, trên một nền cao (ví dụ đài phát thanh), chứ không phải là cái vật nhỏ ta có thể mang đi khắp nơi được.
Chanel gọi là ‘kênh’. Trước đây để dịch chữ TV chanel, ta đă dùng chữ đài, như đài số 5, đài truyền h́nh Việt Nam…
gọi là kênh nghe như đang nói về một con sông đào
nào đó ở vùng Hậu Giang!
Ngoài ra, đối với chúng ta, Saigon luôn luôn là Saigon, hơn nữa người dân trong
nước vẫn gọi đó là Saigon. Các xe đ̣ vẫn ghi bên hông là ‘Saigon – Nha Trang’,
‘Saigon - Cần Thơ’ … trên cuống vé máy bay Hàng Không Việt Nam người ta vẫn dùng
3 chữ SGN để chỉ thành phố Saigon. Vậy khi làm tin đăng báo, tại sao người Việt
ở hải ngoại cứ dùng tên của một tên chó chết để gọi thành phố thân yêu của chúng
ḿnh?! Đi về Việt Nam t́m đỏ mắt không thấy ai không gọi Saigon là Saigon, vậy
mà chỉ cần đọc các bản tin, các truyện ngắn viết ở Hoa Kỳ ta thấy tên Saigon
không được dùng nữạ Tại sao ?
Đây chỉ là một vài ví dụ để nói chơi thôi, chứ cứ theo cái đà này th́ chẳng mấy
chốc mà người Việt nói tiếng Tầu luôn mất! Tất nhiên, v́ đảng Cộng Sản
độc quyền tất cả mọi sinh hoạt ở Việt nam, nên ta khó có ảnh hưởng vào tiếng
Việt đang dùng trong nước, nhưng tại sao các nhà truyền thông hải ngoại lại cứ
nhắm mắt dùng theo những chữ kỳ cục như thế?! Cái khôi hài nhất là nhiều vị
trong giới này vẫn thường nhận ḿnh là giáo sư (thường chỉ là giáo sư trung học
đệ nhất cấp (chưa đỗ cử nhân) hay đệ nhị cấp ở Việt Nam ngày trước, chứ chẳng có
bằng Ph.D. nào cả), hay là các người giữ chức này chức nọ trong các hội đoàn tự
cho là có trách nhiệm về văn hóa Việt Nam ở ngoài nước!
Trước đây Phạm Quỳnh từng nói: ‘Truyện Kiều c̣n th́ tiếng ta c̣n, tiếng ta c̣n
th́ nước ta c̣n’, bây giờ Truyện Kiều vẫn c̣n mà cả tiếng ta lẫn nước ta lại
đang đi dần xuống hố sâu Bắc Thuộc.
Than ôi!!!