Giọng nói, tiếng nói Huế
Ngọc Lan
Huế! một địa danh vừa ngắn gọn, vừa thân
thương.
Nói đến Huế, người ta sẽ liên tưởng đến một thành phố xa xôi
với những ngày hè nắng chang chang thiêu đốt thịt da; những
ngày đông mưa dầm dề, trắng trời thối đất; mưa ră rời, dai
dẳng với cái lạnh cắt da.
Huế với điệu ḥ câu hát năo nùng, buồn rười rượi, những khúc
Nam Ai, Nam B́nh, Hành Vân, Lưu Thủy, Tương Tư.. bềnh bồng
trên sông nước khi chiều xuống, lúc đêm về.
Huế với ḍng Hương Giang ‘ngọc tan thành nước’; với đỉnh Ngự
ngỡ ngàng mây trắng thông reo; với lăng tẩm đến đài âm thầm
cổ kính, với hoàng cung ‘năm thức mây phong nếp áo chầu’;
với áo tía lọng vàng; với lầu son, gác phượng...
Huế với những món ăn thanh đạm, đậm đà mang nặng t́nh quê
hương bát ngát...
Huế thật quyến rũ, thật đặc biệt, và rất chi là Huế.
Nhưng nổi bật và đặc thù hơn hết trong những thứ rất Huế, đó
là: tiếng nói Huế.
Tiếng nói Huế làm nhiều chàng trai tương tư,
“ngớ ngẩn một trời thơ bay”
và suốt đời chỉ mong đợi một phút giây nghe em nói:
Nghe em nói tự bao
giờ,
Bao giờ chừ vẫn ngẩn ngơ lạ kỳ
Em ơi, giọng Huế có chi
Mà trong hoa nắng thầm th́ cơn mưa
Nghe hoài nghe măi chưa bưa,
Anh thương, thương quá tiếng xưa vọng về
.. .. .. .. .. .. .. .. .. ..
Nhiều khi như lạ như quen
Giữa mênh mông đọng giọt em ngọt ngào
.. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .
Xanh trong như tiếng chim chuyền
Nh́n em mái tóc che nghiêng mắt cười
Suốt đời giây phút này thôi
Lắng nghe em nói, một trời thơ bay
(Một Trời Thơ Bay, Lê Nhược Thủy)
Tiếng Huế nói ra rất lạ tai với những từ:
chi, mô, răng, rứa, tê, chừ, ni, nớ, hỉ, hả...
và giọng nói Huế cũng rất khó nghe, dễ gây bối rối ở những
người bạn đồng hương Việt Nam từ các tỉnh thành khác. Có thể
v́ vậy mà chàng Lê Nhược Thủy này sinh ra ngớ ngẩn rồi tương
tư cô nàng? Hay v́ cô em quá đẹp đă hớp hồn chàng? Nhưng có
lẽ Lê Nhược Thủy phải là một chàng trai Huế ‘chính hiệu con
nai’ mới hiểu được nàng nói, rồi cảm thông, rồi say men t́nh...
Nhà văn Thanh Nam, người bạn đời của nhà văn Túy Hồng đă
nhận xét và phát biểu cảm nghĩ về tiếng Huế như sau:
‘Người Huế nói chuyện với nhau bằng
‘ngoại ngữ Huế’. Người Nam, người Bắc chỉ đứng ở ngoài mà
nghe, không làm sao chen vào được một câu’(Túy
Hồng: Áo Rộng Khăn Vành, Tiếng Sông Hương, 1990)
Mới nghe qua tưởng như chuyện khôi hài đùa cợt; nhưng qua
kinh nghiệm thực tế, qua giao tiếp, ư kiến trên không phải
là không có lư. Chúng ta thử đọc qua bài:
|
|
Đời là rứa hay là răng rứa hí Rứa răng đời không một chút vui tươi.
Thấy răng răng nên đôi lúc mỉm cười. |
(Đời là thế, hay là sao thế nhỉ) (Thế sao đời không một chút vui tươi) (Thấy sao sao nên đôi lúc mỉm cười) (V́ thế đấy nên dường như muốn khóc) (Câm lặng rồi, thế sao cứ mời mọc) (Có nói nhiều, sao thế cũng thế thôi) (Mà sao sao, thế thế có ích chi) (Thế sao, sao thế... ) (Có nhiều lúc hỏi sao mà như thế) (Đành trả lời như thế, chứ làm sao) |
(Vô Danh,
ĐVP ‘chuyển ngữ’)
Nếu không phải là dân Huế th́ khó ḷng hiểu nổi bài thơ,
hoặc câu chuyện giữa một đôi bạn trẻ người Huế:
Ghét tui không?
Ghét mà cho ri!
Cho chi mô?
Ầu, răng rứa?
Có chi mô nà.
Ấy, làm răng chừ?
Không răng mô!
Răng răng?
Răng th́ rứa.
Đối với những người khác xứ, câu đối đáp trên có vẻ bâng quơ, bí ẩn, không đâu vào đâu cả. Nhưng với dân Huế, họ có thể hiểu ngay là câu chuyện gay cấn giữa hai người trẻ tuổi với nhau, hứa hẹn nhiều sôi nổi.
Người Huế khi nói chuyện với nhau dùng rất
ít chữ, câu nói ngắn, gọn mà hàm súc ư. Với họ, việc diễn tả
ư tưởng của ḿnh bằng một vài chữ sơ sài là một chuyện quá
dễ dàng, như chuyện cơm bữa. Người Huế nói ít mà hiểu nhiều.
Người Huế dùng những từ đặc biệt rất Huế, của riêng Huế để
nói chuyện với nhau. Những từ này kết hợp, móc nối khác nhau
để trở nên dồi dào phong phú đủ để họ trao đổi các ư nghĩ
riêng tư.
Hai câu thơ:
Nghiêng nghiêng hoài
chiếc nón
Hỏi măi cứ làm thinh
Cho thấy rơ một nét đặc điểm của cô gái Huế.
Túy Hồng, nhà văn nữ của Huế cũng đă nhận xét:
‘Giọng Huế không phải là giọng nói
trước đám đông, mà chỉ có thể là giọng nói trong pḥng khách..
.’
Ở đây dằng dặc những
ngày mưa
Bông sứ trầm tư lặng cổng chùa
Có một ḍng sông trôi chẳng nỡ
Có người con gái: ‘Dạ, xin thưa.. .’
(Nét Huế - Xuân Hoàng)
‘Giọng Huế khó nghe, tiếng Huế khó hiểu, có
thể xem như một ‘ngoại ngữ’’
(Vơ Hương An, Tiếng Sông Hương, 1994, trang 86)
Theo giáo sư Lê Văn Lân trong bài ‘Tiếng Huế Trong Nhóm Thổ
Âm Miền Bắc Trung Việt’ (Nhớ Huế, số 9) th́ tiếng Huế chỉ là
một trong nhiều thổ âm đặc biệt của ta. Theo ông, có thể thổ
ngơi thường quyết định sự khác biệt về thể chất, tính khí
của các dân tộc. Chẳng hạn Lê Quư Đôn trong ‘Vân Đài Loại
Ngữ’ đă trích dẫn một đoạn văn trong sách Hoài Nam Tử của
Lưu An đời Hán: ‘Khí núi sinh nhiều con trai, khí đầm sinh
nhiều con gái; khí nước sinh nhiều người câm, khí gió sinh
nhiều người điếc. Khí rừng sinh nhiều người yếu ớt, khí cây
sinh nhiều người c̣ng, khí đá sinh nhiều người khỏe...’ và
đặc biệt sách trên ghi: ‘Ở nơi nước
trong th́ tiếng nhỏ, ở nơi nước đục th́ tiếng thô.’
Thật ra ảnh hưởng của môi trường sinh thái trên các cá thể.
Ngày nay khoa học cũng đă khám phá ra nhiều dữ kiện khả dĩ
giải thích một phần nào, nhưng vẫn chưa hoàn toàn đúng hẳn.
C̣n tiếng nói th́ người ḿnh vẫn cho là do nước uống mà ra.
Trong cuốn Đại Nam Nhất Thống Chí, khi nói về tỉnh Nam Định,
vùng giáp biển Mộ Trạch, có đoạn: ‘Mộ Trạch có tập tục quê
mùa, giọng nói ngọng nghịu. Người ta gọi là tiếng nói đường
biển... Ở đây ít có kẻ sĩ danh tiếng và thành đạt. Ấy là do
phong thổ mà nên vậy.’
Một tài liệu viết về thổ âm xứ Huế lại cho rằng ḍng sông
Hương có ảnh hưởng đến giọng nói Huế. Và bởi v́ ḍng sông
Hương chảy qua ḷng thành phố Huế, nên người Huế rất sâu sắc,
thâm trầm:
Con sông dùng dằng,
con sông không chảy
Sông chảy vào ḷng nên Huế rất sâu
(Tạm Biệt Huế, Thu Bồn)
Linh mục Leopol Cadiere qua hai bài khảo cứu
Phonetic: Dialec du Haut Annam và Dialec du Bas Annam đă
nhận xét tiếng Huế là một trong những thổ âm miền bắc Trung
Việt. Theo ông, căn cứ trên sự phân hoạch về dân cư và thổ
âm Trung Việt, người ta chia ra ba địa khu: Thanh Nghệ Tĩnh
- B́nh Trị Thiên - Nam Ngăi Phú Khánh.
Thổ âm B́nh Trị Thiên đương nhiên phải bắt nguồn từ vùng
Thanh Nghệ Tĩnh cùng dùng chung những từ Mô, Tê, Răng, Rứa...
như trong bài hát dặm Nghệ Tĩnh
Đi mô cũng nhớ về Hà Tịnh.
hoặc:
Trời làm trộ (trận) mưa
giông
Trời làm hai trộ mưa giông
Nước chảy băng đồng, băng hói, băng sông
Bài thơ sau đây của một thầy đồ người Quảng B́nh có những chữ thường gặp ở vùng quê B́nh Trị Thiên:
Con Voi
Con chi to nậy tắng hai thừng
(to lớn, trắng hai sừng)
Cấy mụi ḷn tḥn tọt dưới chưn
(cái mũi long thong tuốt dưới chân)
Một vạt da đen thui, thủi thụi (vạt =
đám)
Bốn đùi chưn cứng nững nừng nưng
(Chưn = chân)
Vấn đề kề cận địa lư càng có nhiều sự giống
nhau hơn .
Bài Ḥ Cuốn phát xuất từ miền núi Mai, sông Thạch Hăn cũng
có nhiều từ thổ âm của Thừa Thiên:
Khoai to vồn th́
tốt cộ (củ)
Đậu ba lá cũng vừa um
Gà mất mẹ th́ lâu khun (khôn)
Gái thiếu trai th́ thậm khổ (rất khổ)
(Mà) Trai thiếu gái cũng thậm khổ
Trời sinh voi th́ sinh cỏ
Trời sinh giếng th́ sinh mo
Trời sinh sông th́ trời sinh đ̣
Trời sinh o th́ sinh tui (o= cô, tui = tôi)
O một ḿnh th́ không đặng
Gió dưới biển (hắn) dồn vô
Mây trên trời (hắn) cuốn lại.
O với tui cùng cuốn lại.
Tui với o cùng cuốn lại.
Người Huế chịu ảnh hưởng thổ âm vùng B́nh Trị Thiên, nhưng giọng Huế lại nhẹ nhàng thanh tao hơn; có lẽ do ảnh hưởng của ḍng Hương Giang thơ mộng, ḍng sông ‘ngọc tan thành nước’ chăng?
Dạ thưa xứ Huế bây giờ
Vẫn c̣n núi Ngự bên bờ sông Hương
(Bùi Giáng)
Thường thường các thổ âm chỉ được nói ở các
vùng quê, xa nơi thành phố. Kinh đô Huế là một trung tâm văn
hóa quan trọng - nơi giao lưu của nhiều ḍng văn hóa tư
tưởng - như Hà Nội, Sài G̣n, nên việc dùng các thổ âm cũng
dần dàmất đi.
Bài thơ sau đây tuy không dùng nhiều thổ ngữ Huế, nhưng lại
có giọng thơ đặc sệt Huế .
Trong gánh vương tư
(tơ) những vật ǵ?
Một giả thuyết khác lại cho rằng người Việt trên bước đường
Nam Tiến, tiếp xúc với Chiêm Thành, Chân Lạp, Cao Mên, Thái
Lan... có thể theo nhu cầu, người dân xứ Huế đă sáng tạo cho
ḿnh và vay mượn của người để có những chữ ngắn gọn, giản dị
dễ hiểu rất cần thiết để dùng trong khi giao tiếp với nhau
trong cuộc sống hang ngày.
Nhiều tiếng Huế đă xuất phát từ tiếng Chàm như: Tê (The),
Rứa (Roh), Ấy (Ay), Ni (Ni)
Giọng Huế khó nghe đối với đồng bào khác xứ phải chăng v́
thanh âm do người Huế phát ra thuộc một âm vực khó nhận ra.
Nhiều khi người ta c̣n chọc quê người Huế nói năng ‘trọ trẹ’
khó hiểu.
Theo Vơ Hương An, khi phát âm, người Bắc thiên về giọng thấp;
người Nam đi giọng cao, c̣n người Huế th́ giọng b́nh. Phải
chăng cái đặc tính b́nh thanh này khiến cho nó trở nên khó
nghe. Điều này xin nhường lại cho các nhà âm ngữ học.
Theo tác giả trên, nếu miền Bắc và Nam có giọng nói dễ nghe
hơn Huế, th́ họ lại khó giả giọng các miền khác. Giọng Huế
thuộc loại b́nh, trung tính, khó nhận với người ngoài; nhưng
cũng nhờ đặc điểm này đă giúp người Huế có thể giả giọng nói
mọi miền đất nước không mấy khó khăn.
Người Huế phát âm không phân biệt dấu hỏi (?) dấu ngă ( ),
không phân biệt có ‘g’ hay không ‘g’, ‘c’ với ‘t’ ở cuối chữ,
và ‘oi’ với ‘oai’. Người Huế cũng không phân biệt ‘gi’ với
‘d’ và ‘nh’. Ví dụ: người già thành người nhà
Vắt chân chữ ngũ, ‘chém’ củ khoai
lang
Bớ mụ nhà hàng, múc ta ‘đoại’ nước.
Khi nói đến vua, hay các vật dụng của vua, người ta dùng chữ
‘long’, hay ‘ngự’.
Long là rồng, tượng trưng cho nhà vua.
long bào (áo vua),
long nhan (mặt vua),
long sàng (giường vua),
long đ́nh, (nơi vua hội họp)
long giá, long xa (kiệu, xe vua),
thuyền ngự: thuyền vua đi
ngự lăm: dâng lên để vua xem
ngự uyển (vườn của vua),
ngự tửu: vua ban lộc cho cấp dưới
ngự thiện (bữa ăn của vua),
ngự giá (vua đi),
ngai ngự: chỗ cao nhứt, chỗ vua ngồi
vua nghỉ ngơi: vua ngơi
vua đau nặng: đại tiêm
vua chết: băng hà, thăng hà
mộ vua: tẩm lăng
Khi vua muốn trừ khử một người nào đó, vua cho phép họ tự tử
theo ba cách của triều đ́nh, gọi là ‘tam
ban triều điển’: uống thuốc độc, thắt cổ, dùng dao
kiếm để chết.
Vua cho phép tự xử như vậy gọi là ‘gia ân’
Với tội đồ, ngày xưa thường bị xử chém gọi là
‘trảm’. Thủ trảm là chém đầu, thân
trảm: chém ngang lưng .
Tiếng Huế dân gian th́ thật đặc biệt. Người Huế dùng nhiều
từ ngữ không đâu có. Phải ở Huế lâu năm, nói theo từ của
người Huế ‘lâu thâm căn cố đế’, mới hiểu được ư người Huế
muốn nói ǵ.
Chúng ta nghe thử hai câu hát sau đây để thấy Huế có nhiều
phương ngữ mới lạ:
Ru em cho ‘théc’ cho ‘muồi’(théc
= ngủ, muồi = lâu)
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Một vài ví dụ về các từ ngữ đặc biệt ở Huế:
Ấy:
anh chi, giọng thân mật
Chi lạ rứa:
sao lại thế?
Có chi mô:
có ǵ đâu!
Chi tệ rứa:
sao tệ thế!
Chi ri:
cái ǵ đây?
Mô:
ở đâu?
Không răng mô:
không sao đâu?
Mô nà:
ở đâu?
Mô rứa:
ở đâu?
Đi mô rứa:
đi đâu?
Mô hè:
ở đâu kia (ai biết đâu không?)
Làm chi tui:
làm được ǵ tôi nào (giọng thách thức)
Biết chi mô:
biết ǵ đâu?
Tê:
đó kia
Bên tê:
bên kia
Đó tề:
đó ḱa
Dị chưa tề:
kỳ quá!
Ngụy chưa tề:
kỳ dị quá!
Khi tê:
biết thế nay
Bữa tê:
trước đây 2 ngày
Răng:
làm sao
Răng ri:
sao thế?
Răng rứa:
sao thế?
Răng hỉ:
sao nhỉ?
Không răng mô:
không sao đâu
Biết làm răng chừ:
biết làm sao bây giờ
Ai răng tui rứa:
họ sao tôi vậy
Răng ra ri:
sao đến nỗi thế nầy
Ri em:
thế nầy em
Mô ri:
ở đâu mà có thế nầy
Nớ:
ấy, đó!
Người nớ:
người ấy
Nó tề:
cái đó ḱa
Ấy mà dị chưa:
anh mà kỳ quá (nũng nịu)
Rứa hả:
thế à?
Mô hả:
ở đâu nhỉ?
Ri hả:
thế nầy hả?
O:
cô
Đoản hậu:
không nghĩ t́nh
Đời tù huy, tù huưt:
từ đời xa xưa
Hằm bà lằng:
lẫn lộn
Làm bộ, làm tịch:
tự cao, tự đại
Làm đày, làm láo:
làm dốc, lên mặt hỗn xược
Làm như mèo quào:
làm giả dối, phớt qua
Lục lát:
nói giỡn mà chơi
Ngựa Thượng Tứ:
gái thích theo trai
Ốt dột, ốt dạt:
người ta chê cười
Đi thằng c̣ o ngón:
đi thẳng, không chịu về
Tùm lum, tà la:lộn
xộn
Gạo lon tộn:
học chăm chỉ
Om củ tỏi:
ồn ào quá
Tiếng Huế, người Huế khi giận hờn cũng đặc biệt khác người
xứ khác.
Theo nhà văn Nguyễn Mộng Giác, người Huế khi chửi lộn cũng
có lễ giáo, khuôn khổ, luật lệ của nó (cũng như lúc ra đường,
dù buôn thúng bán bưng, người Huế vẫn mặc áo dài, đội nón lá).
Chửi lộn của dân Huế nhắm vào tội bất hiếu (vô hậu kế đại,
mồ tàn không ai un...), tội để cho người khác ‘xách lên để
xuống tổ tiên ḿnh.’
Người Huế chửi lộn có tính cách dai dẳng. Chửi mệt rồi, vào
nhà nấu cơm, đoạn ra sân chửi tiếp. Chửi có vần điệu, có qua
có lại như xướng họa một bài thơ.
-Chửi nhiều lúc như nói chuyện, không cần tiếng, có tính
cách phân bua cho mọi người thấy ḿnh là người tốt, quân tử;
và đối phương, ‘thứ đồ nớ’ là loại không ra ǵ.
-Chửi có thể vừa đối vừa đáp, kẻ tung người hứng như ḥ giă
gạo. Chửi mạch lạc, nhịp nhàng. Khi chửi có thể giơ tay,
giậm chân; nhưng tránh sùi bọt mép v́ sợ đối phương cho là
‘khùng’, ‘tàng’, ‘điên’.
-Chửi nhẹ nhàng, ra mặt dạy dỗ đối phương với giọng lên
xuống trầm bổng; nhưng chửi thấm thía làm cho đối phương
phải đau xót, quay quắt như ‘đỉa phải vô’, ‘ngồi phải lửa’.
-Chửi đổng, là chửi bóng, chửi gió khi mất gà, bị hái trộm
trái cây... Chửi làm cho kẻ ‘cầm nhầm’ phải cảm thấy ‘ốt dột,
ốt dạt.’
-Chửi trù: chửi trù cho người ta ‘chết ẻo’, ‘ăn vào đau bụng
thổ tả’, ‘chết không kịp ngáp’, hoặc ‘không chết cũng ngất
ngư thấy mụ nội, mụ ngoại.’
-Chửi trù c̣n trù cho kẻ địch ‘tàn mạt’, ‘cất đầu không nổi’,
‘vô hậu’, ‘vô phước’ làm cho kẻ bị chửi phải đau đớn, lo âu,
sợ hăi.
-Chửi có tính cách trách mắng quân vô lương. ‘uống nước
không chừa cặn’, ‘cạn tàu ráo máng’, ‘đoản hậu’, ‘như quân
cướp cạn’.
Chửi cũng có thể là chửi cho sướng miệng v́ không thích một
người nào đó, hay ganh tị với người ta, thường phát tiết ra
với câu nói ‘khi không mi chọc cho cha mi giận.’
Nói tóm lại, tiếng Huế, giọng Huế thật đặc biệt, khác xa với
các xứ khác. Chính v́ vậy mà Huế có một chỗ dứng riêng biệt,
không lẫn lộn, không pha trộn với bất cứ một nơi nào khác.
Những cụm từ ‘gái Huế’, ‘trai Huế’,
‘bún ḅ Huế’, ‘nón Huế’, ‘mè xửng Huế’, ‘Huế chay’, ‘Huế đặc
sệt’, ‘Huế 100%’, ‘Huế rặt’ đă nói lên điều đó.
Nhà thơ Huỳnh Hữu Dụng trong bài ‘Rất Huế’
đă tha thiết xin người t́nh ‘hăy
giữ một chút ǵ rất Huế’ đă làm cho ḿnh say mê,
thương nhớ.
Xin em hăy giữ nét duyên dáng, hiền ngoan dịu hiền và rất
đài trang của Huế; nhất là giọng nói dễ thương, mặn mà của
Huế.
Giữ chút ǵ rất Huế mặn mà
Dạ thưa ngọt lịm ai mê say
Và hơi thở mềm, sương khói bay
(Rất Huế, Huỳnh hữu Dụng)
Chúng tôi xin mượn bài thơ ‘Giọng Huế’ của thi sĩ Tô kiều Ngân để chấm dứt bài này :
Ngắt một chút mây trên lăng Tự Đức
Thả vào mắt em thêm một dáng u hoài
Đôi mắt ấy vốn đă buồn thăm thẳm
Thêm mây vào e tan nát ḷng ai
Anh quỳ xuống hôn lên đôi mắt đó
Bỗng dưng sao thương nhớ Huế lạ lùng
Chắc tại em ngồi bên em thỏ thẻ
Tiếng quê hương xao động đến vô cùng
‘Hẹn chi rứa, răng chừ, em sợ lắm’
Mạ ngày xưa cũng từng nói như em
Anh mất mạ càng thương em tha thiết
Như từng thương câu hát Huế êm đềm
.. .. .. .. .. .. ..
Nếu lại được em ru bằng giọng Huế.
Được vỗ về như mạ hát ngày xưa
Câu mái đẩy chứa chan lời dịu ngọt
Chết cũng đành không nối tiếc chi mô.
Người Huế trầm ngâm như nhà văn Bùi Bích Hà viết:
‘Con gái Huế ấm như nắng hè, thơm
ngọt như mật ong, óng mượt như tơ tằm, thanh bai như nhành
lệ liễu và con gái Huế sắc như dao, lạnh như mùa đông, can
trường như đá núi, thâm trầm như biển sâu. Gặp rồi không thể
không yêu, yêu rồi cuộc t́nh sẽ là một vết thương thiên thu’.
(Buổi Sáng Một Ḿnh - Huế Yêu Dấu, Bùi Bích Hà)
Giọng Huế đặc thù, tiếng Huế khó hiểu... nhưng cũng v́ thế
mà Huế có những cá tính riêng biệt không nơi nào có được.
Huế lại càng mang tính cách lạ lùng, quyến rũ hơn lên .
Xin nhớ đến Huế và cảm ơn Huế đă tạo cho chúng ta một cá
tính làm giàu đẹp thêm cho dân tộc Việt.
Ngọc Lan
Tài liệu sử dụng:
Tiếng Huế Tuyệt Vời - Bùi Minh Đức
Tiếng Huế Trong Nhóm Thổ Âm Miền Bắc Trung Việt - Lê Văn Lân,
tuyển tập Nhớ Huế, số 9. Westminster, CA, USA
Tiếng Huế, Người Huế Nói. Nguyên Hương
Tiếng Huế, Một Ngoại Ngữ. Vơ Hương An (Trích Tiếng Sông
Hương, 1994, Dallas, TX, USA)
Huế Đặc Sệt. Bùi Minh Đức (Trích tuyển tập Nhớ Huế, số 81 8,
Westminster, CA, USA)
Tiếng Huế Đặc Thù. Nguyễn Mộng Giác (Tivi Tuần san)
Huế Yêu Dấu. Bùi Bích Hà
Các bài thơ: Giọng Huế của Tô Kiều Ngân
Rất Huế của Huỳnh Hữu Dụng
Một Trời Thơ Bay của Lê Nhược Thủy.