HÀO HOA LÀ LÍNH KHÔNG QUÂN
Hoàng Khởi Phong
"...
Ta là đàn chim bay trên cao xanh...
Đi không ai t́m xác rơi...
Hối tiếc tấm thân mà chi"...
Văn Cao
Nhận điện thoại của Đào Vũ Anh Hùng xong tôi thừ
người ra suy nghĩ... Bạn ta hơi khó tính, đă xin bài lại c̣n ra đề tài: "Viết về
Không Quân mà thôi, thứ khác là dẹp". C̣n là may, bạn tôi không hạn định bài
viết bao nhiêu chữ, nếu không th́ thật giống như cụ Phan Khôi, khi bị một tay
chủ bút của báo nhà nước xin bài của cụ Phan. Ông chủ bút này có tính cẩn thận,
khá biết tính nết cụ Phan, nên chọn đề tài trước, và đồng thời c̣n hạn cho cụ
Phan là chỉ viết trong ṿng 2000 chữ mà
thôi. Riết róng đến cụ Phan Khôi đă phải
thốt lên: "Ra đề, hạn vận một khi buộc ràng". Tôi không phải là một Không Quân,
viết ấm ớ có khi ḷi cái dốt của một anh Bộ Binh thèm bay bổng, thích nói khoác.
Tôi có vài người bạn gốc Không Quân, đành phải mang các bạn ta vào bài viết nàỵ
Thẳng hoặc trí nhớ sau nhiều năm có cùn nhụt, có lỏng lẻo th́ cũng xin nói trước:
Đây là do lỗi của Đào Vũ Anh Hùng, tay chủ bút ác ôn không kém kẻ đă xin bài cụ
Phan năm xưa. Đă không cho nộp bài có sẵn, lại c̣n bắt viết về Không Quân. Trước
tiên tôi xin tặng các bạn gốc Không Quân một câu ca dao của thời đại chúng ta,
thời Việt Nam Cộng Ḥa:
Hào hoa là lính Không Quân
Anh có cái quần anh cũng bán đi
Ngày mai anh mặc bằng ǵ?
Anh mặc xí-líp anh phi pḥm pḥm.
Phần tôi, nói ra thật xấu hổ. Tôi đă mon men hai lần tới cổng Huỳnh Hữu Bạc. Lần đầu vừa mới học xong cái "Tú Tài", cái bằng mà trong thời trai trẻ của chúng tôi có người đă nói: Học Tú Tài như tái tù. Lần đó là đầu năm 62, cùng vài người bạn chung promo, treo cái "tái tù" ṭng teng trước ngực, vào căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất nộp đơn đi "pi-lốt". Thời đó có Tú Tài là học hộc x́ dầu ra. Trước khi bước lên bàn cân cả bọn đă tọng vào họng gần hai lít nước lọc, có khi c̣n nhịn vô nhà cầu cả ngày trời. Phải đủ 50kg, thế mà 90% chúng tôi khi học thi Tú Tài xong là ḿnh hạc, xác ve. Có nhiều cậu cởi áo đánh ping pong là cả làng thấy đeo đồng hồ... Omega trước ngực. Hiếm có thanh niên Việt Nam nào xong cái bằng này mà c̣n có da có thịt, ngoại trừ những anh trời sinh ra là đă có dáng bệ vệ như ông Địa, mà những anh này có cho uống thuốc thánh đền bia cũng không dám đầu đơn vào Không Quân, vào đó lỡ lên trời, máy bay phải nhào lộn th́ cái thùng nước lèo coi bộ khó mà yên được. Ba thằng chúng tôi gồm Hưng Xích Lô, Toàn Liếm và tôi rón rén bước lên bàn cân, ư tứ khép nép cứ như con gái về nhà chồng. Anh tu bíp khám sức khỏe, lừ mắt nh́n chúng tôi không mấy thiện cảm như là coi gị, coi cẳng ngựa đua, hay là gà cá đô.. Hưng và Toàn qua khỏi cái bàn cân dễ dàng. Phần tôi trước khi đi khám sức khỏe đă cẩn thận tọng vào bụng một tô phở xe lửa, một lít nước lọc, thế mà cái kim c̣n cách con số 50kg một chút. Tuy nhiên anh tu bíp cũng cho qua, xá kể ǵ một kư lô thịt, xương, phèo phổi. Vả lại có nhiều Pilốt thời Tây khi đi bay mang theo hai cái gối độn dưới mông, nếu không th́ qua cốp-pít không nh́n thấy ǵ ở bên dưới, chỉ nh́n thấy bầu trời. Tôi tuy thiếu của Không Quân một kư xương da, nhưng bù lại tôi rất rộng răi về chiều cao, ít ra cũng được 1,67 mét. Chiều cao tối thiểu thời đó đ̣i cho một phi công là 1,60 mét. Nói dại chẳng may có hội đủ điều kiện sức khỏe khi đi bay không cần mang theo bên ngoài lễ bộ của những chàng pi-lốt, hai cái gối to xù xù, bên cạnh những dao, súng, dây đạn chằng chịt, hỏa pháo xanh đỏ. Hai cái gối trông kỳ, trông không giống pi-lốt tí nào. Tới bây giờ là hơn ba chục năm qua đi, tôi vẫn c̣n cảm giác tiếc hùi hụi khi tôi không đủ điều kiện sức khỏe. Khám cái ǵ mà kỹ đến thế. Khám mắt không cũng hai ngày, nào là pḥng tối, pḥng sáng, nào là loạn sắc, loạn thi.. Kế đó xem phổi có bự đủ ba lít không khí khi hít vào thở ra không. Tôi bị loại v́ đôi tai không nghe được những tiếng động có chu kỳ âm thanh thấp, hoặc cao. Tai tôi không nghễnh ngăng. Chỉ phiền một cái trường độ âm thanh từ thấp đến cao của tôi quá hẹp. Thế là tôi ôm hận ra về, nh́n hai ông bạn vênh váo đi lănh quân trang. Bạn học cùng năm, cùng lớp với tôi c̣n hai trự nữa là Nguyễn Văn Quư và Nguyễn Huy Bản cũng gia nhập Không Quân, nhưng nộp đơn sau Hưng, Toàn và tôi một năm. Sau này năm 75 Quư là một Phi đoàn trưởng Phi đoàn vận tải, Bản bay Khu Trục, Hưng 37 và Toàn F5. Một năm sau, tôi bị vồ vào Thủ Đức. Hết giai đoạn I, người ta cho tôi đi khám sức khỏe để chuyển qua Không Quân một lần nữa, tuy chỉ là Quan Sát Viên (observateur), nhưng tôi vẫn c̣n cay cú bầu trời, nên hí hửng đi không rồi lại về không. Thành thử cái mộng của tôi măi măi là một con chim chưa vỡ bụng ***, nhưng khoái bay bổng trên bầu trời. Sau này ra đời tôi kết giao với nhiều tay Không Quân có lẽ cũng chỉ v́ cái mộng thời tuổi nhỏ. Khi Thế Phong làm Tổng Thư kư tạp chí Lư Tưởng, tôi là một trong những anh không dính dáng ǵ đến Không Quân, nhưng lại có bài thường xuyên trên tờ báo nàỵ Cũng nhờ đó mà tôi biết thêm nhiều bằng hữu, trong đó có cái ông Đào Vũ Anh Hùng, người đang ra đề hạn vận cho tôi viết bài này. Năm 1965, tôi là một Thiếu Oái, Quyền Đại Đội Trưởng một đơn vị chuyên môn thuộc Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 BB ở Ban Mê Thuộc. Tôi bắt đầu giao thiệp với một anh Trung Oái Không Quân, pi-lốt thứ thiệt. Anh này bay máy bay quan sát, biệt phái cho Sư Đoàn 23. Anh cao ráo, đẹp trai, có một hàng ria mép nhỏ như con kiến. Ảnh có một đôi mắt đẹp, một nụ cười tươi mà có thể chết người như chơi. Tôi biết anh ta qua tờ Lư Tưởng. Ảnh làm thơ, tôi cũng làm thơ. Ảnh hơn tôi có máy bay... riêng bay dạo chơi mỗi buổi chiều. Tôi hơn ảnh ở dưới đất, tôi có xe... Jeep, mỗi ngày 20 lít săng, chạy lăng quăng trong thành phố bụi mù trời. Ảnh có tên là Vơ Ư, sau này tôi gặp ảnh hoài khi cả hai đi thập phương tam đạo, sau cùng gặp nhau ở Pleiku, gió bụi mưa mù. Khi gặp lại ở Pleiku ảnh là Thái tá, c̣n tôi cấp bậc th́ lên hai nấc, nhưng chức vụ vẫn y chang, nghĩa là Đại Đội Trưởng, không hơn không kém. Nhắc lại thời mới giao thiệp với nhau, ảnh gạ tôi:
- Ông thích lái máy bay lắm ha??
- Rồi sao ?
- Th́ mỗi chiều ông ra phi trường, tôi... đánh máy bay cho ông đi chơi một ṿng.
Đổi lại ông cho tôi mượn một chiếc xe Jeep, xấu xí,
mui trần cũng không sao. Bọn tôi biệt phái thành thử xe cộ không có, mùa mưa ở
đây ác liệt, có nhiều hôm nhịn đói không đi ăn. Vả lại tôi không ở đây lâu, một
tháng là cùng. Khi nào hết hạn công tác ở đây th́ tôi trả lại cho ông. Nghe th́
cũng bùi tai, vả lại xe đâu có phải của riêng
tôi. Đơn vị tôi có tới 15 chiếc xe
Jeep, lúc nào cũng có vài chiếc nằm không. Tôi giao hẹn với ông bạn:
- Cho ông mượn xe cũng được, nhưng với một điều
kiện: Ông không được đổ săng máy bay vào xe, hết săng cứ về đơn vị tôi, đâu sẽ
có đó. Dùng săng máy bay cháy máy như chơi. Tôi c̣n nhớ cái cười tủm tỉm của Vơ Ư
ngày đó, trông đểu không chịu được, tôi đă định nuốt
lời. Ngày hôm sau, chưa hết
giờ làm việc đă thấy người anh em Không Quân tà tà ngồi xe ôm vào đơn vi.. Ảnh
giục tôi:
- Bữa nay trời đẹp, để tôi đánh máy bay cho ông đi chơi một ṿng. Ông mới thấy thành phố Buồn Muôn Thuở này ở dưới đất, lên trời ông sẽ thấy nó đẹp hơn ông tưởng. Đi lè lẹ lên không th́ trời tối. Thế là tôi mê đi, cả hai ra phi trường quan sát, ngay trong trung tâm thành phố. Trông thấy chiếc L17 là tôi phát ngán ngẩm. Máy bay ǵ mà trông cứ như đồ chơi. Nhưng chả lẽ ra tới đây mà không leo lên th́ cũng kỳ. Tôi cứ nghĩ trong đầu máy bay phải to ghê lắm, trông hùng hổ như dao súng lỉnh kỉnh trên người các anh pi-lốt. Té ra phi công cũng có nhiều loại và nhiều kiểu. Nói trộm vía ông bạn già Vơ Ư của tôi, máy bay bà già coi không khá được, đúng là... bà già. Thiếu nữ trông đâu có hom hem như thế. Thiếu nữ trông tươi mơn mởn, đâu ra đó. Bà già chạy trên phi đạo nghe... cót két, cọt kẹt. Rồi đột nhiên người tôi nhẹ như bấc, thế là đă ở trên ngọn cây. Té ra trông vậy mà không phải vậy. Đâu có thua ǵ những cô thiếu nữ 17 bẻ găy sừng trâu. Gió thổi bập bùng đập vào hai cánh. Vơ Ư đánh một ṿng thành phố. Có lúc anh lên cao tuốt mù tắp, rồi anh chúc xuống ngay trước sân cờ đơn vị tôi. Tôi trông rơ cả mấy người lính trong đơn vị đang lăng quăng trong giờ làm việc. Anh nhào lên lộn xuống vài lần, chỉ là mấy cái nhào lộn của... bà già thôi, thế mà tôi đă xuưt ói cơm. Ảnh ngó chừng coi tôi chịu nổi không, xong rồi th́ cười hà hà, cho máy bay b́nh phi về hướng Bắc. Ở trên cao nh́n xuống, tôi thấy thành phố đang chứa chấp tôi quả là đẹp hơn lúc ở dưới đất. Từ trên cao, tôi không nh́n thấy những con ngơ tối tăm lầy lội trong mỗi mùa mưa. Từ trên cao thỉnh thoảng tôi nh́n thấy những đám mây hồng bốc lên cao, mỗi khi có một chiếc xe di chuyển trên những con lộ đất đỏ. Tôi nh́n thấy đích thị là những đám khói lam chiều cuồn cuộn bay lên từ những buôn bản của đồng bào thiểu số. Cái đẹp u tịch của rừng núi, trầm mà hùng. Đột nhiên tôi ghét những cái mái tôn của những căn nhà sàn, nằm sát ngay bờ quốc lộ đen nhẫy nhựa đường. Những mái tôn nói lên sự bất ổn của núi rừng bởi v́ nhà sàn của đồng bào Thượng phải có một cái mái lá, mầu nâu già và nằm sâu trong rừng cây. Những mái tôn gần sát ngay mặt lộ là những buôn bản đă bị cắt đứt khỏi vùng đất địa bàn của ho.. Tôi trông thấy những đồn điền cà phê ngút ngàn, tôi tưởng ra những người cu li đói ăn của vài chục năm trước, ở tứ xứ bị lùa về đây làm việc trối chết để đổi lấy một cuộc đời tăm tối. Chuyến bay cho tôi được đôi điều bổ ích, nó giúp tôi có cơ hội nh́n rơ mặt quê hương. Bởi v́ tôi lùi được ra xa, leo được lên cao để nh́n lại chính ḿnh trong cuộc chiến này. Vơ Ư cho máy bay đáp xuống khi những tia nắng cuối cùng tan trong kẽ lá. Trước khi giao một chiếc xe pḥng hờ của đơn vị cho Vơ Ư mượn, tôi nói:
- Xe mui trần, ông đừng có chở đàn bà con gái trên xe, gió bay tóc coi kỳ mà tôi cũng có thể bị nạo .
- Yên chí đi, tôi chỉ dùng xe để đi bay và đi ăn thôi.
Một tháng sau, anh mang xe trả lại tôi để trở về đơn vị gốc. Trong một tháng này chính mắt tôi nh́n thấy có vài bóng hồng mà cả nước Ban Mê Thuộc quen mặt biết tên ngồi trên ghế trưởng xa. Anh trả xe được một tuần, th́ xe cũng phải vào Quân Cụ đại tu bổ, thay máy. Vơ Ư rời Ban Mê Thuộc được vài tháng th́ tôi khăn gói quả mướp ra Phú Quốc. Vơ Ư cũng là người... giúp cho tôi đi sớm hơn v́ lúc đó tôi c̣n trẻ không biết giữ ḿnh, khi tôi gặp Vơ Ư tôi là Quyền Đại Đội Trưởng một Đại Đội chuyên môn, ông xếp của tôi đi du học Mỹ. Nếu tôi thực tế một chút, th́ chỉ cần ba tháng sau tôi đă là Đại Đội Trưởng thật sư.. Bởi tôi biết chắc ông xếp tôi khi du học về sẽ ra vùng I, là nơi sinh quán của ông. Phải chi tôi biết thực tế hơn một chút, chăm nom đơn vị hơn một chút, năng lấy điểm Tiễu Đoàn Trưởng một chút th́ chỗ đó ai cự lại tôi. Chỉ cần ra điều gương mẫu một chút th́ mọi việc đâu đă vào đó, có khi c̣n lấy vợ Ban Mê Thuộc nữa là khác. Nhưng trời cho tôi cái tính coi... trời bằng vung. Tôi chỉ làm những ǵ tôi thích, chứ không làm những ǵ ông Tiễu Đoàn Trưởng thích. Vụ cho Vơ Ư mượn xe sau cùng cũng đến tai ông xếp ṣng trên Pleiku, ông cử một Thái Oái khác xuống thế chỗ cho tôi. Phần tôi ngồi chơi chờ ngày ra Phú Quốc. Trong khi chờ đợi này, tôi c̣n biết ǵ hơn là đi đánh mạt chược, thụt bi da và chiều chiều đánh xe ra bên bờ suối coi lén mấy cô Thượng tắm truồng. Suốt một tháng trời tôi không về Tiễu Đoàn trên Pleiku, ông xếp cũng có vẻ không muốn thấy mặt tôi, mà tôi th́ cũng chẳng có ǵ ham lên gặp ổng.
Mỗi ngày tôi lái xe dong chơi khắp thị xă, tôi la cà trong những đồn điền cà phê, vào lúc hoa cà phê nở rộ như những đám mây trên trời, và từng đàn bướm vàng cánh nhỏ chập chờn, cho tới khi nhận Sự Vụ Lệnh đi đơn vị mới.
Năm năm sau gặp Vơ Ư lại tại Pleiku. Chính Vơ Ư làm đầu cầu cho tôi quen với Lê Bá Định, một Trung Tá pi-lốt có Cử Nhân văn chương. Ngoài giờ đi bay Lê Bá Định dạy Triết Học cho trường Nữ Trung Học Pleime. Ông Định c̣n là một tay viết phú khá tài hoa, và tất nhiên cũng là một pi-lốt khu trục tài ba. Lúc tôi gặp lại Vơ Ư, chàng đă là Phi Đoàn Trưởng một phi đoàn quan sát.
Chàng không c̣n bay máy bay bà già, mà bay Cesna,
hay là cái quỉ quái ǵ đó. Giờ th́ chàng oai như một con cóc cô.. Lên trời th́
máy bay đẹp, xuống đất th́ xe Jeep mới, mầu xanh đậm của Không Quân. Chàng không
cần phải mượn xe của tôi. Tuy nhiên t́nh bạn của chúng tôi mỗi ngày một thân hơn,
v́ cái đất Pleiku lúc đó có được bao kẻ làm thơ viết văn. Lê Bá Định là Không
Đoàn Trưởng, ông là nhân vật số hai của phi trường Cù Hanh. Tôi ngủ tại phi
trường Pleiku nhiều hơn trong đơn vị
tôi. V́ trong phi trường vui hơn ngoài phố.
Ngoài phố chỉ có ăn nhậu, nhảy đầm trong hội quán Phượng Hoàng. Mà tôi th́ không
biết nhảy đầm nên mất đi một mục... vui đời lính trẻ xa nhà. Chính tại Pleiku
này tôi gặp và không bao giờ quên được Thặng Fulro, một phi công khu trục đă
chết v́ không bỏ anh em, không bỏ bạn bè. Cho dù là những anh en không hề biết
mặt, và những bạn bè không hề biết tên là những đơn vị Bộ Binh, đang bị vây hăm
dưới đất trong trận đánh mùa hè năm 72. Trước khi Thặng chết đâu chừng hai tuần
lễ, có một việc xảy ra rất buồn
cười. Lúc đó t́nh h́nh chiến sự Vùng II cực kỳ
sôi động. Lệnh giới nghiêm trên toàn lănh thổ Quân Khu từ 10 giờ tối cho tới 6
giờ sáng ngày hôm sau. Hàng đêm, cứ 9 giờ tối là lính của tôi túa ra xe, đi tuần
tiễu, bắt giữ các quân nhân vi phạm. Thông thường các xe tuần tiễu rảo qua các
chỗ ăn nhậu nổi danh của Pleiku, thị oai với các quân nhân c̣n la cà quán xá khi
giờ giới nghiêm sắp tới. Thặng người to lớn, anh cao hơn thước tám, nặng cỡ tám
chục kư lô. Làm như trước khi con người chết bất đắc kỳ tử
thường có những hành vi
bất ngờ. Hành vi bất ngờ của Thặng trước khi anh chết độ hai tuần lễ, anh bị
lính của tôi mời về Đồn Quân Cảnh. Nhắc lại thời gian giới nghiêm của mùa hè năm
72 đó. Khi toán tuần tiễu của đơn vị tôi chạy ngờ ngờ ngoài phố là một dấu hiệu
bất thành văn cho các quán sửa soạn đóng
cửa. Thặng uể oải vươn vai đứng dậy, trả
tiền xong ra về. Trông anh có vẻ hơi quá
độ. Hai lần đạp máy xe, hai lần anh suưt
ngă v́ mất đà. Lần thứ ba anh dận lên bàn đạp, chiếc xe rú lên v́ tay ga đă vặn
hết đà về phía trước. Anh vừa sang số, chiếc xe đă chồm lên và hất anh ngă xuống.
Một người lính trong toán tuần tiễu, biết Thặng là bạn tôi nên tiến tới ngỏ ư
muốn giúp anh nổ máy chiếc xe, và nếu cần th́ bỏ chiếc xe Honda lên xe tuần tiễu
và đưa Thặng về phi trường. Thặng trong lúc ngà ngà quá chén tưởng là bị bắt.
Mắt anh long lên và anh nổ ra một tràng:
- Muốn bắt ha?? Kêu thằng ông nội mày ra đây.
Người lính Quân Cảnh lễ phép phân trần, nhưng Thặng gạt phắt đi. Anh nổ ra một câu nữa:
- Kêu thằng ông nội mày ra đây xem nó có dám bắt tao không?
Lần này th́ anh trưởng toán tuần tiễu không nhịn nữa. Anh ta vẫn lễ phép nói với Thặng:
- Mời Đại Úy về Đồn Quân Cảnh gặp ông Trưởng Đồn của tôi.
Thế là Thặng gầm lên. Anh lồng lộn như một con cọp trong chuồng. Cũng may anh nhậu tới chỉ, nên có muốn kháng cự cũng không có sức. Anh chửi mấy người lính Quân Cảnh và tôi tắt bếp. Anh dọa sẽ... thả bom vào Đồn Quân Cảnh cho tuyệt cái giống... thổi c̣i. Khi tôi được báo về câu chuyện xảy ra, tôi đang ở phi trường Cù Hanh lái xe về. Chuyện thả Thặng th́ quá dễ. Cái khó xử là với người lính của tôi, chỉ v́ ḷng tốt mà bị Thặng chửi xối xả ngoài đường. Hơn thế nữa, nếu xử ch́m xuồng e rằng mấy người lính của tôi không phục. Lúc đó đă nửa đêm. Tôi gọi điện thoại cho Vơ Ư. Vơ Ư đẩy cây sang cho ông Định. Hắn nói:
- Thằng Thặng nó bay khu trục. Tao đâu có dính ǵ với nó mà lănh nó ra.
- Khu trục hay quan sát ǵ th́ cũng là bạn ông. Tôi chỉ cần một người to lon hơn nó, lănh nó ra không đêm nay ngủ trong đồn, nặng 80 kí lô chứ 180 kí lô muỗi nó cũng khiêng đi.
- Mày kêu cho ông Định, hay là cho thằng Phi đoàn trưởng của nó.
Khi tôi kêu ông Định, th́ ông nói:
- Toa cho nó ngủ ngoài đó một đêm cho nó tởn. Sáng mai moa với thằng Ư ra lănh nó sớm về đi bay.
Thế là tối đó tôi ngủ lại trong đồn. Chả lẽ lại nhốt bạn vào pḥng kỷ luật sĩ quan. Tôi nhờ người lính thủ kho lấy cho tôi thêm một cái ghế bố, chăng một cái màn, và một cái chăn cho đỡ lạnh. Lúc đó người lính của tôi báo cho tôi biết một việc nghe vừa giận, vừa buồn cười:
- Hồi năy ông pi-lốt bạn của Đại Úy đái đầy ra xe tuần tiễu.
Sáng ra Trung Tá Lê Bá Định và Vơ Ư có mặt từ sớm. Lănh Thặng ra xong cả bọn, kể cả Thặng đi ăn hủ tíu tại Chợ Mới. Từ lúc lănh Thặng ra cho tới khi ngồi trong tiệm, ông Định không nói một lời nào. Không biết ai nói cho ông Định nghe là Thặng đái ra xe tuần tiễu. Đang ăn, ông Định nói bâng quơ: - Moa là toa moa bắt cởi áo ra lau chỗ nước đái. Hai tuần lễ sau tôi nghe tin Thặng chết. Tôi không rơ chi tiết của cái chết, nhưng tôi nhớ khi tôi nhận điện thoại của Vũ Công Hiệp, một phi công khu trục cao lêu nghêu th́ thành phố chưa lên đèn, Vũ Công Hiệp nói với tôi:
- Đúng là số chết. Không ai bắt nó bay nữa. Nó bay yểm trợ cho mặt trận Kontum, Tân Cảnh suốt một ngày ṛng ră. Nó đi chuyến chót đâu vào khoảng xế chiều. Nó vừa đáp xuống là hối mang bom, đổ săng cho nó đi chuyến nữa. Nó đă thả hết bom, và xà xuống quá thấp nên trúng đạn đại bác pḥng không. Máy bay rớt ngay bên ngoài pḥng tuyến của quân ta dưới đất. Phải ba ngày sau, quân ta phản công.
Mặt trận Kontum, Tân Cảnh được giải vây, mới mang được xác của Thặng về. Nghe nói phơi nắng hai ba ngày, xác của anh to như một con trâu chương, phải xài tới hai cái poncho mới che đủ thân thể của Thặng.
Sau này thỉnh thoảng đi ngang bùng binh chợ Bến Thành, tôi nh́n thấy ảnh của Thặng, của Trần Thế Vinh, một phi công diệt tăng tại vùng I Chiến Thuật. Mỗi lần nh́n thấy ảnh của anh, tôi lại nhớ tới lần anh phải ngủ trong văn pḥng của tôi. H́nh như tôi có bạn Không Quân nhiều hơn là bạn đồng nghiệp. Tôi có số thiên di, suốt mười ba năm quân ngũ tôi có mặt tại đủ bốn vùng chiến thuật. Mớ quân trang của tôi ngày ra trường đầy một túi quân trang, và một cái ba lô. Dần dà mỗi lần di chuyển lại mất đi một số đồ đạc. Sau vài năm th́ mớ quân trang chỉ c̣n vài bộ quần áo nhà binh và vài bộ thường phục, cùng một số sách vở. Nói nào ngay, binh chủng của tôi nhỏ, mỗi thành phố có vài sĩ quan, ai nấy đều nghiêm chỉnh, không văn nghệ văn gừng ǵ cả. Nội cái khoản quân phục tề chỉnh, giầy đánh bóng, râu tóc gọn ghẽ là tôi đă phát mứa lên tới tận cổ. Thành thử với các đồng nghiệp tôi kính nhi viễn chi. Tôi giao thiệp với Không Quân nhiều v́ họ ít máu "quân giai" trong ngườị Nhất là với các phi công, đặc biệt là phi công chiến đấu. Cho dù họ mang cấp bậc ǵ trên vai áo, th́ phận ai nấy lo, mỗi người một con tầu, một bầu trời trước mặt và lưới lửa đạn pḥng không của địch bao quanh thân tầu. Cho dù họ bay máy bay ǵ cũng vậy, chỉ là một thỏi sắt biết bay trên trời. Cái bản nhạc "Không Quân Việt Nam", của Văn Cao, với lời hát:
"... Lúc đất nước lâm nguy, bao người con ra đi,
hối tiếc tấm thân mà chi... Đi không ai t́m xác rơi..."
hay th́ có hay, nhưng mà lăng mạn và có vẻ hơi xa với thực tế trong chiến tranh Việt Nam. Tôi thích cái tính lè phè của Không Quân, phần lớn cấp bậc để dễ làm việc. Làm việc mà không có tôn ti trật tự th́ đâu có là quân đội, mà là một cái ǵ đó, từa tựa như lính Tam Phủ ngày xưa. Nhưng hết giờ làm việc th́ phải nới ra cho mọi người dễ thở. Ở Pleiku, tôi c̣n quen nhiều nhân vật trong phi trường. Bạn rất thân và cùng lớp sau này c̣n lấy một cô em họ tôi là Phạm Tuấn Kiệt, xuất thân khóa 19 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, làm tới Chỉ Huy Phó Trung Tâm Hành Quân Không Trợ của Quân khu IĐ. Tên này mà bốc máy điện thoại lên nói vài câu tiếng Mỹ là bom đạn ở trên trời rơi xuống. Một tên bạn khác, học cùng lớp với người em rể tôi là Đại Úy Lại Vạn Thọ, tên chàng là Thọ mà số th́ ngược lại, anh chết rất trẻ, không phải v́ chiến trận, mà v́ bị du đảng đâm chết chỉ v́:
"Giữa đường thấy chuyện bất bằng chẳng tha".
Cũng cùng một lớp với tôi và Phạm Tuấn Kiệt c̣n một trự nữa là Đoàn Trọng Thê, cũng một nghề Không Trợ. Nghe đâu bạn tôi lúc này đang làm chức to, trong một đ̣an thể lớn đến độ có thể sắm máy bay tư để về oanh tạc bọn ác ôn côn đồ trong nước. Máy bay phản lực MIG 17, 19 giờ đang được nước Nga phá sản, bán sale. Rẻ rề, miễn có tiền là mua được. Nước Nga giờ cái ǵ mà không bán. Tàu ngầm nguyên tử, trạm phi thuyền không gian c̣n bán tuốt huống hồ ba cái máy bay cũ kỹ mấy chục năm. Quyên góp măi th́ cũng có ngày có thể sắm được, nhưng cái kẹt là bạn tôi xưa không phải là pi-lốt. Những tay pi-lốt thứ thiệt lâu ngày không bay c̣n lụt nghề.
Thôi th́ cứ "wait and see", xem đảng của bạn tôi
hoạch định con đường cứu nước. Khi Chuẩn Tướng Lam Sơn lên làm Tư Lệnh Phó Quân
Đoàn, ông kiêm nhiệm luôn chức vụ Quân Trấn Trưởng Quân Trấn Pleiku, tôi làm sĩ
quan phụ tá cho ông về quân phong quân kỷ. Tướng Lam Sơn đánh giặc chẳng biết có
hay không? Song huyền thoại về ông th́ ông đă từng... khện một anh cố vấn Mỹ
bằng ba toong. Thành thử dưới cái dù của ông Tướng, đơn vị của tôi làm việc mệt
cầm canh. Ngày đầu tiên nhận trách nhiệm, ông ra lệnh cho tôi một ngày bắt một
trăm anh lính vi phạm ngoài đường. Ba ngày sau không c̣n một anh lính trẻ xa nhà
nào dám lang thang trong giờ làm việc.
Thậm chí tôi phải cho xe tuần tiễu hoạt động gấp
đôi, cũng không thể nào đủ. Một tuần lễ sau tôi báo cáo trở ngại th́ ông Tướng
nhẹ nhàng bớt cho 50%, nghĩa là một ngày 50 trự sẽ bị Quân Cảnh vồ. Chỉ trong
một tháng trời thành phố bớt hẳn cái vụ lính lang thang trong giờ làm việc. Chỉ
trong một tháng trời các ông đơn vị trưởng các đơn vị biệt lập ở Pleiku, ai nấy
đều có vẻ thương yêu tôi ra tṛ. Nói ra th́ xấu hổ, thực ra đơn vị tôi chẳng qua
chỉ là cáo mượn oai hùm. Các ông xếp lớn, nhỏ vị thần nên nể cây đa, thân thiện
với đơn vị tôi không để đâu cho hết. Các đơn vị Không Quân nổi tiếng lè phè cũng
quen với tôi... ráo riết.
Trung Tá Mạo, Không Đoàn Yểm Cứ, Thiếu Tá Xung Tiếp
Liệu. Mấy ông Phi Đoàn Trưởng th́ qua Vơ Ư và Lê Bá Định, không thân cũng hóa ra
thân. Mùa hè năm 1972, năm Trần Văn Thặng bay lên trời để yểm trợ cho các đơn vị
Bộ Binh dưới đất, khi xác anh rơi xuống, nào có phải đi t́m đâu cho
xa. Xác anh
nằm chương ra ngay trước pḥng tuyến của quân bạn vài ngày trước khi được mang
về. Tôi c̣n nhớ rơ cái bầu trời không khí nồng mùi tử thi đó. Ban đêm thành phố
như là một thành phố chết. Tôi hay lái xe lang thang trong phố đêm, nh́n những
cửa hiệu, hàng quán đóng cửa im ĺm. Mấy người học sinh vừa học vừa gác nhân dân
tự vệ dưới ánh sáng của những ngọn đèn đường. Những con chó hoang t́m mồi ban
đêm. Mùa hè năm đó không hiểu tại sao về đêm sương nhiều như thế. Có hôm mới
chưa đầy 10 giờ đêm mà sương như bưng lấy mắt. Ánh đèn xe không soi nổi một
khoảng cách hai mươi thước tây. Sương như để tang cho những người chết trên rừng,
trong núi. Đơn vị tôi cách nhà xác của nhà thương một khoảng cách ngắn, ban đêm
thỉnh thoảng lái xe ngang qua nơi này, tôi có cảm giác như nghe được tiếng cú
rúc năo nề vẳng lên. Những ai đă ở Pleiku, hẳn đă có đôi lần đến ăn bún ḅ nhà
xác. Gọi là bún ḅ nhà xác, v́ đó không phải là một cửa tiệm ngoài mặt đường,
không có bảng hiệu, lại nằm trong con ngơ nhỏ, ngay đằng sau nhà xác. Bún ḅ ở
đây ngon ra ǵ, có điều từ khi mùa hè đỏ lửa xảy ra, tôi không bao giờ lại ăn ở
đó. Sau mùa hè này, một ḥa ước tạm bợ được kư kết tại
Paris. Tôi đi trao đổi tù binh mệt nghỉ. Trong một tháng trời liền tôi ngồi máy
bay, vượt một khoảng đường dài bằng một ṿng trái đất, trung b́nh ba ngày hai
chuyến Phú Quốc Huế, mỗi một chuyến C130 mang 100 tù binh ra trao trả nơi bờ
sông Thạch Hăn. Trong những giờ rảnh rỗi chờ máy bay, hoặc là tại chót cùng hải
đảo, hay là tại phi trường Đà Nẵng, phi trường Phú Bài, tôi c̣n biết làm ǵ hơn
ngồi suy nghĩ vẩn vơ. Cảm giác của tôi về ḥa b́nh thật mong manh như những đám
mây trắng nơn cuối trời. Chỉ cần một trận gió thoảng qua là quét sạch khỏi bầu
trời. Có dịp ngồi máy bay liên tục tôi có cảm tưởng gần gũi với những người bạn
Không Quân của tôi hơn.
H́nh như khi con người ta ở trên một cao độ nào đó,
nh́n xuống dưới đất, cái độ cao cho dù là giả tạo, cũng vẫn có một chất xúc tác
nhỏ nhoi làm cho tấm ḷng con người ta cao hơn một chút. Tôi có cảm giác có thể
là không thật, và mơ hồ là h́nh như ở trên cao người ta bớt đi tiểu
đi. Ở trên
cao, gần với những đám mây trắng nơn ḷng con người ta có sạch sẽ thanh cao hơn.
Những người đi biển thường trực cũng có một tấm
ḷng rộng răi hơn khi đang sống những giây phút hải hành. Thiên nhiên luôn luôn
cảm ứng với những kẻ có ḷng. Trong những trường hợp ngược lại, với những kẻ
sinh ra với tấm ḷng độc ác, th́ thiên nhiên chỉ ứng vào trong giây phút và sẽ
trả lại tấm ḷng độc ác khi sự hiện diện của thiên nhiên không c̣n. Các bạn bè
Không Quân của tôi, vốn dĩ đă là những cánh chim tránh sao khỏi tan tác trong
trận băo 75 ập tới. Đầu tiên về hai anh bạn cùng đi khám sức khỏe hơn ba mươi năm
trước tại phi trường Tân Sơn Nhất. Hưng "xích lô" th́ không bao giờ gặp lại, chỉ
nghe loáng thoáng là sau này bay A37.
Suốt ba mươi năm, không một lần gặp lại trong
đời.
Toàn, anh có một cái tên hiệu không nho nhă, do Không Quân đặt cho anh là Toàn "liếm".
Tôi có gặp lại Toàn nhiều lần trên
Pleiku. Anh vẫn hệt như ngày nào, trắng trẻo,
đẹp trai, thư sinh, nho nhă. Chẳng hiểu v́ đâu mà lănh một cái tên hiệu không
lấy ǵ làm hay ho. Năm 75, Toàn cũng lại không bỏ anh em, không bỏ bạn bè. Bốn
tên ngồi trong một pḥng lái chật hẹp của F5 trên đường đào thoát khỏi tổ quốc.
Khi bay sang được đến Thái Lan, gần phi trường Utapao, máy bay hết săng, phải
đáp khẩn cấp trên xa lô.. Máy bay nổ. Đây mới thực là:
"... Đi không ai t́m xác rơi..."
Nước đă chẳng c̣n, mấy ai c̣n nghĩ tới những cái chết cuối mùa trận chiến đó. Nguyễn Anh Dũng, một phi công A37 khác, vốn là một học sinh năm Tú Tài đầu tiên của Trung Học Ban Mê Thuộc. Khi tôi ở Ban Mê Thuột, Dũng chưa đi lính. Dũng thua tôi bốn tuổi, coi tôi như là một người anh. Nhiều người thấy Dũng lên máy bay trong những trận đánh cuối cùng của miền Nam, có điều không một ai trông thấy Dũng hạ cánh. Đặng Kim Sơn, một thiếu úy vừa mới du học, cũng lại A37. Sơn là con một ông bạn đồng nghiệp với cha tôi cùng một cư xá với tôi và thua tôi mười tuổi chẵn.
Sơn mới đúng là một thằng em tôi, thuở nhỏ vẫn ôm
quần áo cho anh đi đá banh, reo ḥ tở mở mỗi lần tôi sút lọt vào gôn địch. Sau
này khi Sơn vào Không Quân, tôi cũng không biết. Tôi chỉ biết tin khi Sơn du học
sắp trở về. Sơn là một người con ngoan trong gia đ́nh, bác Mai, cha Sơn, bạn với
ông cụ tôi suốt hai mươi năm ṛng ră từ khi di cư vào Nam. Khi Sơn về nước, chưa
kịp đáo nhậm đơn vi.. Phải chi em tôi học dốt, rớt lại một khóa, th́ làm sao mà
có mặt trên chiếc C119, bị bắn rơi ngay khi vừa cất cánh lên khỏi phi đạo của
phi trường Tân Sơn Nhất, trong ngày 29 tháng Tư oan khiên đó. C̣n nhiều lắm, kể
làm sao cho hết những người bạn Không Quân của
tôi. Với những người đă nằm xuống
th́ không c̣n ǵ để nói, có nhắc lại chỉ làm đau ḷng người c̣n sống. Nhưng với
những người c̣n hiện diện trên cuộc đời này, trong nước hay ngoài nước, tôi biết
rơ một điều: Tuy họ c̣n sống, nhưng họ chính là những cái xác rơi khắp bốn
phương trời. Không ai phải bận tâm đến chuyện đi nhặt xác
họ. Bởi v́ chính họ,
kể từ khi không c̣n được làm bạn với bầu trời tổ quốc trên đầu, th́ phần hồn mới
là đáng kể. Cái phần hồn đó của ai nấy giữ. Bài viết này coi như là một món quà
nhỏ, của một anh chàng không được Không Quân chiếu cố hơn ba chục năm trước,
nhưng tận đáy ḷng người viết những ḍng chữ này, tôi xin trả lại một người bạn
Không Quân của tôi, người đă tặng tôi một huy chương đeo chơi nơi ngực áo, một
cái huy chương ăn giỗ, không tính điểm khi thăng cấp. Đó là huy chương: "Không
Vụ Danh Dự Bội Tinh", dành cho những người không phải là Không Quân mà sử dụng
phương tiện của Không Quân, nói tóm lại là đi máy bay
nhiều. Khi anh bạn tôi ghi
tên tôi vào danh sách này, anh không hỏi tôi xem có đồng ư hay không, th́ khi
tôi viết ḍng chữ này, hà tất tôi phải xin phép anh. Tôi cũng chẳng ghi lại tên
anh nơi đây, bởi v́ không biết anh hiện c̣n sống hay đă mất trên phần đất quê
nhà.
Hoàng Khởi Phong